Ý tưởng phổ quát đầu tiên về sở thích là một xác quyết cho phép những người có thị hiếu bị coi là kém cỏi tự che chở mình để khỏi bị chỉ trích, đó là : mỗi người có sở thích của riêng mình. Tức là sở thích được quy định bởi một nguyên lý chủ quan, không cần sự tán đồng của người khác.

Ý tưởng phổ quát thứ hai, được chấp nhận ngay cả bởi những người cho rằng ai cũng có quyền phê phán sở thích, là : trong lãnh vực sở thích, không thể có sự tranh cãi. Tức là việc phê phán sở thích tuy có thể dựa trên một quy định khách quan, nhưng nó không thể bị thu tóm trong những khái niệm xác quyết. Như thế, không thể có chứng cớ rõ ràng cho các phê phán này, để người ta có thể tranh luận về chúng một cách chính đáng. 

Tranh cãi và luận bàn giống nhau ở chỗ cả hai, qua mâu thuẫn, đều hướng đến một thỏa thuận, nhưng chúng khác nhau ở điểm khi tranh cãi người ta tìm cách đạt đến thỏa thuận bằng những chứng cớ hiển nhiên (…), được coi như nền tảng của việc phê phán. Ngược lại, khi sự chứng minh này không thể thực hiện được (vì thiếu chứng cớ hiển nhiên – NHV), thì người ta quyết định là : không thể tranh cãi.

Chúng ta thấy rõ là giữa hai ý tưởng phổ quát vừa nêu, có một quan điểm, tuy không được tuyên dương rõ ràng (…), nhưng vẫn nằm trong tri kiến của người thường, đó là : người ta có thể luận bàn về sở thích (dù không thể tranh cãi). Tuy nhiên, điều này lại mâu thuẫn với ý tưởng thứ nhất được nói ở trên. Thật vậy, nếu người ta được luận bàn về sở thích, tức là người ta có hy vọng đạt đến một thỏa thuận. Thế thì phải có một nền tảng khách quan nào đó cho sự suy xét, chứ không phải chỉ có những ý kiến chủ quan. Đó lại chính là phủ định ý tưởng “mỗi người có sở thích của riêng mình”.

Sự tương phản này có thể được trình bày như sau :

Đề : Sở thích không được xây dựng trên những khái niệm, nếu không thì đã có thể tranh cãi về nó.

Phản đề : Sở thích phải dựa trên những khái niệm, nếu không thì (…) không thể nào luận bàn về sở thích (tức là đi tìm một sự đồng thuận trong sự phê phán nó).

(…) Thật ra, phê phán sở thích chỉ dựa trên giác quan, chứ không đem lại một khái niệm nào cho trí tuệ, vì sự phê phán ấy không liên hệ gì đến hiểu biết. Như một sự hình dung đặc biệt về khoái lạc, nó đơn thuần là một phán quyết chủ quan, và như thế, giá trị của nó hạn chế trong phạm vi của một cá nhân : điều ấy đem lại cho tôi một sự thích thú, trong khi kẻ khác có thể không có cùng cảm nhận – mỗi người một sở thích.

Tuy nhiên, việc phê phán sở thích chắc chắn bao hàm một sự mở rộng phạm trù biểu tượng của điều được phê phán (và chủ thể phê phán) (*), khiến chúng ta có thể dựa trên đó để coi những phê phán ấy như một sự đương nhiên đối với mọi người (một cách chủ quan – NHV). Ví thế, phải có một khái niệm làm nền tảng cho việc này, tuy khái niệm này không thể đến từ một trực giác (theo nghĩa trực giác hiểu biết – NHV), mà là một khái niệm tha nhân không thể biết được, khiến cho nó không có khả năng đem lại một chứng cớ nào cho sự phê phán sở thích.

Kant
Critique de la Faculté de Juger (1790),
1ère PARTIE, 2è SECTION, § 56-57 (Exposé et solution de l’antinomie du goût)

Nguyễn Hoài Vân phỏng dịch

Download bản pdf của bài này tại: https://goo.gl/fY2iBj
(*) “Mở rộng điều được phê phán” nghĩa là : điều tôi cảm nhận về một đối tượng, thí dụ như sự xinh đẹp, trở thành một đặc tính của đối tượng này, được thêm vào các đặc tính khác của nó, như thể toàn bộ các đặc tính của đối tượng này được mở rộng ra với cảm nhận chủ quan của tôi. Còn “mở rộng chủ thể phê phán” là coi sự phê phán của tôi như mở rộng ra đến mọi người. Nói cách khác, khi tôi thích (hay ghét) điều gì, thì tôi không khỏi hình dung mọi người đều có cùng cảm giác ấy, như tôi.

§§§§§§§§§§

Ghi thêm :

Quan niệm cổ điển về sở thích, thí dụ cảm giác “đẹp”, đến từ những tiêu chuẩn khách quan, như sự tương hợp, hài hòa, giữa các đường nét, màu sắc, bố cục, v.v… được coi như thể hiện một phần của sự toàn hảo của Thiên Chúa. Trung thành với quan điểm “hãy tự đốt đuốc mà đi”, cùng với sự phủ nhận những gì “siêu hình”, chống ảo tưởng hệ thống, khẳng định ý niệm đạo đức có sẵn trong tâm mỗi người thay vì đến tứ bên ngoài … (xem những bài trước về Kant), ở đây, Kant đặt vấn đề phê phán sở thích.

Ông không chỉ cho là sở thích tùy thuộc mỗi người, mà đặt nó trong một mâu thuẫn theo đó sở thích vừa nằm trong phạm vi cá biệt, riêng cho mỗi người, vừa mang trong nó một sự phổ quát hóa, với cảm tưởng mọi người đều có thể chia sẻ sở thích của mình. Sự phổ quát hóa ấy dựa trên một loại khái niệm không thuộc về trí tuệ, mà thuộc về giác quan, một loại khái niệm của riêng mình, người khác không biết được, nhưng mình lại hình dung mọi người đều có thể chia sẻ nó. Tức một khái niệm không khái niệm !

Điều này khiến ở một đoạn văn khác, Kant gọi sự “đẹp” là “điều không khái niệm nhưng tạo thích thú một cách phổ quát” (ce qui plait universellement sans concept), cùng với hai tiêu chuẩn khác, là : bất vụ lợi, và có vẻ mang một mục đích, nhưng mục đích ấy đã biến mất (finalité sans fin).

Xem : Khách Lạ – Thơ Baudelaire – Dịch và chú giải

Lưu ý: Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, bạn đọc phải tự kiểm nghiệm chân lý cho mình.

Advertisements