Trong bài: Trò chuyện triết học- Bùi Văn Nam Sơn, tác giả viết:
“Vậy, nói cụ thể, triết gia làm những công việc gì?”
Theo tác giả công việc của người triết gia là:
“Thưa bạn, họ làm giống hệt như chúng ta đang làm trong mọi lĩnh vực, chỉ có điều, với những phương tiện khác mà thôi. Nếu viên chức nhà nước làm việc với những quy định của pháp luật, nhà doanh nghiệp với của cải, tiền bạc, đối tác, người chủ gia đình phải đương đầu với những lo toan thường nhật, tìm những phương cách và phương tiện để giải quyết chúng, thì nhà triết học làm việc với những khái niệm và sự chiêm nghiệm. Nhưng bất kỳ ai cũng đều xoay quanh mấy công việc quen thuộc mà hệ trọng sau đây: hiểu hậu cảnh; quyết định có cơ sở; hành động có trách nhiệm; hoạt động có hiệu quả; truyền thông rõ ràng,”

Các bạn đọc câu trả lời của tác giả thì đã biết người triết gia làm việc gì chưa ?
Tôi nghĩ câu trả lời vẫn chưa được cụ thể và rõ ràng.

Tôi có đôi lời bàn để trả lời câu hỏi: triết gia làm những công việc gì?” mời các bạn tham khảo.

Bộ môn triết học đã ra đời từ lâu xong cho đến nay vẫn chưa có được một khái niệm chính xác cho hai chữ triết học. Trong nguyên lý triết học mác xít của nhà xuất bản sự thật hà nội 1961 trang 16 có viết “nghĩa chính của chữ triết học còn chưa xác định được đối tượng, nhiệm vụ và nội dung của triết học.” Còn các nhà triết học việt nam có đưa ra một khái niệm cho bộ môn triết học, trong cuốn triết học mác lê nin do vụ huấn học ban tuyên huấn trung ương biên soạn có viết như sau: “Triết học là một hệ thống những quan điểm và quan niệm chung của con người về thế giới. Nó là thế giới quan của một giai cấp.” (nhà xuất bản sách giáo khoa mác lê nin 1976 phát hành)
Triết học là một môn khoa học nó không phục vụ riêng cho một giai cấp, triết học có nhiệm vụ phê phán tất cả những tư tưởng đã lỗi thời, không phản ánh đúng hiện thực khách quan trong hệ tưởng của con người bất kể đó là quan điểm tư sản hay “cộng sản”. Khi phê phán những quan điểm đã lỗi thời để hình thành nên những quan điểm mới do nhận thức chủ quan của các nhà triết học mà họ có những quan điểm phù hợp với giai cấp này hay giai cấp khác. Bản thân bộ môn triết học với những nhiệm vụ riêng của nó thì nó không có tính giai cấp.
Triết học chỉ là một môn khoa học như các môn khoa học khác với mục đích phát triển nhân thức con người. Giai cấp thống trị đã sử dụng những ý tưởng của các nhà triết học để làm căn cứ lý luận cho sự thống trị xã hội của họ. khi giai cấp thống trị đồng tình với ý tưởng của nhà triết học nào thì ra sức tô vẽ, ca ngợi nhà triết học ấy, ngược lại thì họ tìm mọi lý lẽ để bôi nhọ những ỷ tưởng trái ngược với họ.
Ví dụ có nhà triết học cho rằng vật chất đều do các nguyên tử cấu tạo nên. Nguyên tử là những hạt vô cùng nhỏ bé không thể phân chia, khi các nhà khoa học tìm ra một loại hạt nhỏ bé, họ vội vàng cho đó chính là nguyên tử. Vài năm sau các nhà khoa học lại tìm ra một loại hạt khác nhỏ bé hơn nguyên tử, thế là lúc ấy người ta hò hét ầm ĩ rằng các nhà triết học sai lầm và họ cho ràng vật chất là vô cùng vô tận.
Ở đây chúng ta thấy rằng các nhà triết học đưa ra một khái niệm về vật chất rằng vật chất do các nguyên tử cấu tạo nên và nguyên tử là các hạt vô cùng nhỏ bé không thể phân chia được. Như vậy khi nào ta tìm được loại hạt nào có đặc tính như vậy thì mới được mang cái tên là nguyên tử. khi chưa tìm ra loại hạt có đặc tính như vậy đã vội vã gán tên cho nó rồi lại đổ lỗi cho các nhà triết học như vậy là không công bằng.
Nếu chúng ta gắn hai chữ triết học với một tác phẩm cụ thể nào đó thì ta thấy một số quan điểm trong tác phẩm triết học ấy có thể phù hợp vói lợi ích của giai cấp này hay lợi ích của giai cấp kia. nếu chúng ta tách riêng hai chữ triết học để hình thành nên một khái niệm về bộ môn triết học thì triết học cũng chỉ thuần túy là một môn khoa học.
Triết học là một môn khoa học chuyên nghiên cứu hệ tư tưởng của con người

Ý thứ hai mà các nhà triết học việt nam cho rằng triết học chỉ là một hệ thống những quan điểm và quan niệm chung của con người về thế giới thì quan điểm ấy không phản ánh được đối tượng, nhiệm vụ của bộ môn triết học với tư cách là một môn khoa học. Định nghĩa như thế thì bộ môn triết học chỉ là một môn thống kê làm nhiệm vụ ghi chép lại các quan điểm và quan niệm chung của con người về thế giới. như vậy không phản ánh được tính sáng tạo của bộ môn triết học với mục đích đấu tranh với những tư tưởng lạc hậu, lỗi thời để xác lập hệ tư tưởng mới.
Có lẽ nhận thức về bộ môn triết học như vậy cho nên các nhà triết học việt nam chỉ đi vào sưu tầm những quan điểm trong triết học của C.Mác để ghi chép nó lại thành một hệ thống và truyền bá lại cho dân chúng. Trong khi xã hội con người luôn luôn phát triển vậy mà các nhà triết học việt nam lại chỉ đi vào ghi chép lại các quan điểm triết học thì còn đâu tính sáng tạo. Triết học như vậy nó không đem lại những tri thức mới cho con người mà nó chỉ như những tiếng vỗ tay đồng tình trong cuộc đấu tranh giữa hai tư tưởng đối lập nhau.
Xét trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử ta thấy mỗi một giai đoạn lịch sử khác nhau, đều có một quan điểm tư tưởng đặc trưng cho mỗi giai đoạn phát triển ấy. Chính trong thời điểm chuyển đổi ấy các học thuyết triết học có tính cách mạng được ra đời. Với định nghĩa của các nhà triết học việt nam về bộ môn triết học như vậy đã không nêu ra được đối tượng để nghiên cứu. với cách thức giáo dục về bộ môn triết học như ở việt nam để gắn tên cho người này hay người kia cái danh hiệu tiến sĩ hay phó tiến sĩ, thực ra những ông phó tiến sỹ hay tiến sĩ triết học ấy chỉ là những cậu học trò ngoan ngoãn.
Bởi vì họ chỉ cần đi sưu tầm những quan điểm và quan niệm của các nhà triết học rồi học thuộc lòng như một con vẹt là cũng trở thành một ông tiến sĩ rồi.
Để nghiên cứu triết học thì phải nắm được các quan điểm và quan niệm chung nhất về sự tồn tại và phát triển của thế giới trong hệ tư tưởng của con người, phải biết những quan điểm và quan niệm ấy có phản ánh đúng hiện thực khách quan hay đã lỗi thời. Khi những quan điểm ấy không còn phù hợp thì phải đi vào phê phán để hình thành nên những quan điểm mới nghĩa là nhà triết học phải là người sáng tạo triết học chứ không phải là người học triết học. Nghĩa là triết học không chỉ là một hệ thống những quan điểm và quan niệm của con người mà:

Triết học là một môn khoa học chuyên nghiên cứu hệ tư tưởng của con người. Triết học đặt những quan điểm và quan niệm đang tồn tại trong hệ tư tưởng của con người lên bàn nghiên cứu, để xem xét những quan điểm và quan niệm ấy có phản ánh đúng hiện thực khách quan hay không. Khi những quan điểm và quan niệm ấy đã lỗi thời không phản ánh đúng hiện thực khách quan thì các nhà triết học phải phân tích chứng minh và phê phán những quan điểm ấy. Từ đó xây dựng, phát triển những quan điểm, quan niệm mới để hình thành nên hệ tư tưởng mới.

Ví dụ trong những quan điểm triết học Mác Lê Nin đang dùng để giảng dạy trong các trường học có quan điểm cho ràng:
“Giá trị của sức lao động là giá trị các hàng hoá thiết yếu để bù đắp cho sức lao động đã bị tiêu hao và để duy trì nòi giống.”
Quan điểm trên là đúng hay sai? theo quan điểm của bạn thì giá trị sức lao động là gì?
Rộng hơn có các câu hỏi:
Sau 100 năm hoặc 1000 năm thì cơ cấu xã hội sẽ như thế nào?cơ cấu nhà nước như hiện nay có còn tồn tại hay không?
Công việc của người triết gia là: Quan sát – đánh giá – nhận định – xác lập tư tưởng.

+ Quan sát: quan sát xem thế giới đang nói về vấn đề gì?
+ Đánh giá : đánh giá xem vấn đề thế giới đang nói đến đúng hay sai.
+ Nhận định: nhận định xu thế tồn tại và phát triển của vấn đề thế giới đang nói đến.
+ xác lập tư tưởng: phát biểu quan điểm của bản thân về vấn đề thế giới đang nói đến.
Đó là công việc của các nhà triết gia.

Bạn đọc Hòa Bình gửi tới Diễn đàn triết học Việt Nam. Bài viết thể hiện quan điểm của bạn đọc Hòa Bình, không phải quan điểm của Diễn đàn triết học. Bạn đọc phải tự mình kiểm định đúng sai. Như khẩu hiệu của Diễn đàn triết học, rằng Đừng tin tưởng ai một cách bừa bãi.

Advertisements