Một luận thuyết về công lý. Kỳ 5 : I. Ý niệm về Thiện/Tốt (the Good) trong cán cân công lý

37. Hai Nguyên tắc Công lý cần phải dựa trên hai nội dung giá trị của quyền hạn và thiện lành. Một hệ thống định chế công lý hay là những đức hạnh chính trị sẽ không phục vụ được điều gì – ngoại trừ những định chế và đức hạnh chính trị giúp công dân duy trì lý tưởng thiện lành trong tổng thể giá trị toàn diện mà họ sống với. Theo Rawls thì một ý niệm về công lý chính trị phải tự nó dung chứa đủ một không gain cho tinh thần ngưỡng vọng trong đức tin về con người và cứu cánh xã hội của công dân. Nếu không thì hệ thống chính trị tự do sẽ không quân bình theo chiều dài thời gian. Theo đó thì, “Cái Công lý phân định giới hạn; cái Tốt chỉ ra cứu cánh” (The Just draws the limit; the Good shows the point).(2001: 140-142)

38. Nhưng cái Tốt là gì? Có thể đưa ra sáu ý niệm về “cái Tốt” trong lý tưởng công lý:
(i) Cái tốt là của lý tính (the good as rationality) mà trong đó con người trong cuộc, trên cơ sở công dân, có được một trực giác về dự án cho đời sống của họ để mà theo đó, họ theo đuổi bằng lý trí, ý chí, nỗ lực thành đạt theo cảm nhận đó.
(ii) Cái tốt bao hàm những chỉ tiêu chính trị cơ bản của những quyền chính trị của những cá thể tự do và bình đẳng.
(iii) Cái tốt là cái được thừa nhận phổ quát cho tiêu chí công lý xã hội đến từ một bối cảnh rộng lớn hơn từ nhiều chủ thuyết toàn diện về giá trị nhân văn, bao gồm, cả những chủ thuyết mang tính cực đoan, tuyệt đối, nhất là vê siêu hình hay tôn giáo.. Do đó, ý niệm và quyền hạn là cái phải rõ ràng, phân định trong quyền hỗ tương trên cơ sở xã hội, chứ không có quyền hạn tuyệt đối (ví dụ, xử tử những kẻ bỏ đạo).
(iv) Cái tốt là của đức hạnh chính trị bao gồm khả năng nhân nhượng, vừa phải, khách quan, chấp nhận sự bất đồng chính kiến, tôn trọng tiến trình và quy tắc thủ tục, chấp nhận quy tắc chung quộc, ví dụ, đa số thắng thiểu số trong bầu cử.
(v) Cái tốt của một trật tự xã hội tốt đẹp (well-ordered society) kiến tạo bởi hai Nguyên tắc Công lý.
(vi) Và cái tốt trong một xã hội như là một tập hợp của những xã hội nhỏ trong một xã hội lớn.

Như vậy, khởi đi từ ý niệm của tốt lành như là lý tính (goodness as rationality) kết hợp với ý niệm chính trị về con người, về sự thể của đời sống, và cấu trúc tổng quan về những dự án cho một cuộc đời hợp lý, chúng ta có những giá trị tốt đẹp của sản phẩm cơ bản (the primary goods). Từ những sản phẩm cơ bản này, để tìm ra chủ đích của những ai tham dự vào vị thế nguyên thuỷ của luận thuyết, the theoretical original position, chúng ta kiến tạo nên hai Nguyên tắc Công lý. Từ đó, cái gì là “tốt” tuỳ theo tính liên hệ chấp nhận được trong phạm vi của hai Nguyên tắc Công lý này. Sau đó là vai trò của đức hạnh chính trị của công dân, vốn cấn thiết để bảo đảm sự tồn tại và phát huy của một cấu trúc chính trị cơ bản qua thời gian.

K. Định chế cho Công lý

39. Phân biệt giữa “Nhân bản công dân” (Civic humanism) đối với “Cộng hòa cổ điển” (classical republicanism) (2001:142-144)

Hai Nguyên tắc Công lý trên cơ bản chính trị và công bằng thích hợp với nền chính trị cộng hòa cổ điển, nhưng phản nghịch với chính trị nhân bản công dân. Nhân bản công dân là một thể loại chính trị trong truyền thống triết học Aristotle với quan niệm rằng công dân là những “con vật chính trị” trong một xã hội dân chủ mà sự tham gia vào việc chung là phổ biến, rộng rãi, tích cực như là một khuôn mặt chính yếu và cần thiết của cuộc đời. (18) Sự tham gia tích cực vào việc chính trị là điều kiện cần thiết nhằm bảo vệ các quyền tự do căn bản và cũng là một cơ sở giá trị định nghĩa cho cái gì là tốt đẹp toàn diện cho con người. Nhưng như vậy, theo Rawls, thì loại chính trị dấn thân này đã trở nên một chủ thuyết toàn diện (a comprehensive doctrine) vốn không phù hợp với hai nguyên tắc công lý đưa ra ở đây. Trong các xã hội dân chủ hiện đại ở Tây phương – không như chính trị của Athens hồi trước – sinh hoạt và tham gia chính trị không phải là điều kiện phải có và là nhu cầu tối cao của công dân, dù điều đó rất là hữu ích và mang giá trị lớn. Bởi vì tham gia và hoạt động chính trị như là một điều kiện cho công dân được hưởng quyền tự do căn bản thì các thành phấn bất lợi và yếu thế sẽ không được hưởng quyền hạn và tự do cơ bản xứng đáng trong lý tưởng công lý ở đây.

Nền cộng hòa cổ điển cũng rất coi trọng sự tham gia và dấn thân tích cực, rộng rãi vào việc nước và chính trị ở khắp mọi tầng lớp và mọi phương diện như là điều kiện quan -trọng cho sự tồn vong của chính trị dân chủ và một xã hội công lý – nhưng nó không coi sự tham dự chính trị như là một đức hạnh, một phạm trù tốt đẹp, thiện lành trong một chủ thuyết toàn diện cho giá trị con người. Vì vậy, sự khác biệt giữa hai nền chính trị này thực ra chỉ ở mức độ tham gia của công dân trong sự liên hệ đến giá trị toàn diện và tuyệt đối của các cá thể công dân. Cả hai nền chế độ đều lên án chủ trương rút lui về đời sống tư nhân, riêng biệt, không màng gì đến chính trị hay là việc nước của công dân – vì như thế là tạo cơ hội cho các thành phần năng động và quyền lực tập trung được quyền hành trong tay họ, tạo ra sự bất công từ đó.

40. Phân biệt giữa Dân chủ Hiến pháp đối với Dân chủ Quy trình (Constitutional versus Procedural Democaracies) (2001: 145-48)

Sự phân biệt căn bản là ở vai trò của hiến pháp (thành văn hay bất thành văn). Trong chế độ dân chủ tư hữu, hiến pháp phải quy định và đặt ưu tiên giá trị tự do và quyền hạn căn bản được nêu lên ở Nguyên tắc Công lý thứ nhất. Quan trọng nhất là một tập hợp những điều khoản về dân quyền (bill of rights) liệt kê những quyền tự do của con người, vai trò của luật pháp và tòa án bảo vệ các dân quyền, và sự giới hạn thẩm quyền của đa số và quyền lập pháp không được vi phạm các quyền căn bản của thiểu số. Ví dụ, lập pháp, dù là với đa số lớn lao, không thể làm luật không cho người thiều số theo đuổi một nghề nghiệp, vì đạo luật này sẽ vi phạm nguyên tắc bình đẳng của mọi người.

Trong khi đó, trong một nền dân chủ quy trình, hiến pháp không đóng chức năng giới hạn thẩm quyền của lập pháp và đa số. Quyền hạn cơ bản của thiểu số, hay là của thành phần bất lợi thế trong xã hội, có thể bị vi phạm qua tiến trình dân chủ bằng những đạo luật làm nên bởi lập pháp và hành pháp đại diện cho đa số (majority) hay là số nhiều (plurality) của thành phần xã hội. Do đó, chính trị dân chủ qua giá trị của quy trình, dù khách quan và công minh, cũng không thể là một chế độ chính trị hiệu năng cho hai Nguyên tắc Công lý.

Tuỳ vào mỗi văn hóa và truyền thống chính trị dân chủ mà nền chính trị hiến pháp là có công lý hơn hay là cũng giống như nền dân chủ quy trình. Nếu trong một xã hội mà văn hóa chính trị và ý thức công dân cao, thì vai trò hiến pháp thành văn không còn là tối quan trọng – như trường hợp của Anh quốc vốn không có hiến pháp thành văn với các điều khoản dân quyền như các nước khác nhưng đó là một nền chính trị dân chủ rất gần với hai Nguyên tắc Công lý. Văn kiện và chữ viết mà không có gì khác hơn thì cũng chỉ là một tờ giấy với ngôn ngữ thuần ước vọng vô nghĩa hay chỉ là khí cụ tuyên truyền, như trường hợp các quốc gia độc tài chuyên chế luôn luôn có các hiến pháp đầy đủ các điều khoản dân quyền.

Tuy nhiên, chúng ta không thể coi thường vai trò giáo hóa và giáo dục chính trị, cũng như là vai trò chính đáng của luật pháp cho các nhà đấu tranh công lý, đối với văn kiện hiến pháp với các quyền cơ bản được nêu lên thành văn bản chính thức trong một truyền thống văn hóa chính trị dân chủ chưa trưởng thành. Hiến pháp và đạo luật trong nhiều hoàn cảnh lịch sử và xã hội, nhân văn, đóng vai trò giáo dục chính trị nhiều hơn là chức năng cưỡng bách pháp chế. Ở đây, khi mà hai Nguyên tắc Công lý phải đi đôi với ý niệm “Lý luận công khai và minh bạch” (public reason), thì vai trò giáo dục chính trị của hiến pháp thành văn không thể bị chối cãi. Bởi vì dân chủ bao giờ cũng là thuộc về chính trị nghị trường và thảo luận, một quy trình sinh hoạt và tranh luận để đi đến một kết quả quân bình và qua suy tưởng bao giờ cũng là điều kiện cần thiết – cái mà Rawls và Ronald Dworkin gọi là “nguyên tắc diễn đàn công chúng” (the public forum principle).

41. Phân biệt giữa Cấp tiến chính trị và Cấp tiến Toàn diện (Political versus Comprehensive Liberalism) (2001: 153-57)

Cấp tiến Toàn diện là sự dung thứ cho tất cả mọi giá trị dù cực đoan hay độc tôn được phát huy và chủ động chính trị và xã hội. Trong khi đó, Cấp tiến Chính trị mở rộng không gian công lý cho một mẫu người chính trị vừa phải, hợp lý, công bằng và tôn trọng quy luật hỗ tương. Vì vậy, cấp tiến chính trị không chấp nhận một giá trị cấp tiến toàn diện vì cái sau cho phép những chủ thuyết hay niềm tin tuyệt đối, nhiều khi không bao dung, như là các phong trào cộng sản toàn trị, hay các chủ thuyết tôn giáo cực đoan như Hồi giáo cực đoan, được đóng vai trò chủ động chính trị. Bởi vậy, một chế độ chính trị công lý phải bao gồm những giá trị tuyệt đối nhưng phải không đến mức chúng vi phạm Nguyên tắc thứ Nhất về tự do và quyền hạn cơ bản. Thực ra, một nền công lý hiệu năng phải tìm cách hóa giải bớt tác động của các chủ thuyết cực đoan mà không phải loại trừ chúng. Ví dụ, các trẻ em sinh ra trong các giáo phái cực kỳ bảo thủ, không muốn cho con em được học hành theo chế độ giáo dục quốc gia, không cho phép các em bé được chữa bệnh theo tiêu chuẩn y khoa đương thời, hay cho phép các tín đồ được đa thê, như ở Hoa Kỳ với giáo phái Mormon, thì một chế độ Cấp tiến Chính trị sẽ phải có pháp luật cưỡng chế giáo dục hay y tế và hôn nhân theo tiêu chuẩn “quyền lợi tối cao” của quốc gia (compelling state interests) đồng lúc tạo cơ hội cho trẻ em liên hệ có cơ hội chọn lựa trong sự hiểu biết vượt qua vòng giới hạn giáo điều của gia đình và cộng đồng giáo phái của chúng.

42. Vai trò Gia đình

Hai Nguyên tắc Công lý bao gồm cả vai trò của gia đình trong cái vế liên tục từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp của con người trong một xã hội công lý. Từ cơ bản gia đình, con người được nuôi dưỡng, giáo hóa, để đến khi có đủ khả năng, bước vào hệ thống hợp tác với xã hội để cùng dấn thân và chia sẻ, cộng hưởng và phát triển tất cả những gì mà xã hội đó cống hiến. Từ đó, cơ chế gia đình là một đơn vị trong nhiều đơn vị khác hỗ tương lẫn nhau trong cùng một hệ thống mà lý tưởng mà hai Nguyên tắc Công lý sẽ được áp dụng trực tiếp, nhưng không can thiệp vào nội bộ của đời sống riêng tư của từng gia đình cho đến mức mà những gì tư riêng của gia phong không ảnh hưởng và đi ngược với nguyên tắc cơ bản của công lý và pháp luật quốc gia và xã hội. Ví dụ, vai trò của vợ chồng trong gia đình thì tuỳ vào cá nhân trong gia đình đó xếp đặt, nhưng người chồng, chẳng hạn, không được quyền vi phạm nhân phẩm, hành hạ hay bạo hành với người vợ, hay cha mẹ không được lạm dụng và hành hạ con cái. (2001: 162-68)

Trong những ngày cuối năm ấm áp, tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm từ Hoa Kỳ đã gửi đến cho Diễn đàn Triết học Việt Nam một bài viết mới của ông: Một lý thuyết về công lý. Diễn đàn triết học Việt Nam xin được trích đăng ra từng kỳ, đồng thời đăng tất cả dưới dạng pdf.
Mời các bạn tải về dưới dạng pdf: http://adf.ly/1iZBhl
(Chờ 5 giây, nhấn vào Skip ad ở góc trên bên phải màn hình để bỏ qua quảng cáo )

Advertisements