Một luận thuyết về công lý. Kỳ 6 : L. Trả lời những chỉ trích từ Marx đối với chủ nghĩa Cấp tiến

43. Về các chỉ trích cơ bản: (2001: 176-79)

(a) Các quyền hạn và tự do căn bản (Marx gọi là “tự do của người đời nay”) chỉ để diễn đạt và bảo vệ tính chất ngã mạn của công dân trong xã hội tư bản. Trả lời: Trong một chế độ dân chủ tư hữu có hiệu năng, các quyền căn bản này sẽ bảo vệ những quyền lợi cấp cao của công dân như là những cá thể tự do và bình đẳng. Dù rằng quyền tư hữu cho mục tiêu sản xuất kinh tế được công nhận nhưng không phải là quyền cơ bản.
(b) Các quyền cơ bản trong một chế độ dân chủ hiến pháp chẳng qua là quyền theo hình thức. Trả lời: Bằng giá trị công bằng của các quyền tự do chính trị, tất cả mọi công dân, dù trong vị thế hay hoàn cảnh nào, đều có cơ hội hợp lý nhằm ảnh hưởng đến việc nước.
(c) Trong chế độ hiến pháp công nhận quyền tư hữu thì các quyền tự do chỉ là tự do tiêu cực (negative liberties). Trả lời: Trong các định chế bối cảnh (background institutions) của nền dân chủ tư hữu với nguyên tắc bình đẳng cơ hội của Nguyên tắc Công lý thứ Hai, Nguyên tắc Phân biệt, (the Difference Principle), sẽ bảo vệ được hiệu năng các quyền tự do tích cực (positive liberties).
(d) Về sự phân cấp lao động bất công trong chế độ tư bản. Trả lời: Các quyền cơ bản về con người và quy luật lao động trong bình đẳng cơ hội thăng tiến giáo dục và kinh tế sẽ có khả năng giải quyết vấn đề bất công lao động.

44. Lý tưởng “cộng sản” toàn diện đối với một xã hội “Gần công lý” (Near-just society)

Rawls nhấn mạnh rằng, hai Nguyên tắc Công lý không thể nào so sánh với một viễn tượng xã hội được cộng sản hóa toàn diện vì một xã hội cộng sản lý tưởng thì các vấn nạn công lý không còn nữa khi mà các vấn đề công lý phân phối đã được vượt qua và công dân không phải đương đầu với thực tế hay hoàn cảnh bất công nữa. Nhưng đây là điều không tưởng – như ai cũng biết đến điều này. Công lý ở đây phải thừa nhận và khởi đi từ thực tế xã hội, lịch sử, con người trong các chế độ dân chủ – gọi là các “xã hội gần công lý” (near-just societies). Trong các “xã hội gần công lý”, thực tế tâm lý con người và hoàn cảnh khiếm khuyết khách quan không thể được đuổi đi bằng ước mơ và lý tưởng. Lý tưởng công lý toàn diện để vượt qua vấn nạn công lý một cách tuyệt đối để không còn là vấn đề chính trị nữa chỉ là ảo tưởng trong một chủ nghĩa toàn diện, điều mà chính trị công lý không thể cho phép hay là đáng để cho con người ước mơ.

M. Vấn nạn Ổn định (2001: Part V)

45. Một luận thuyết chính trị, như là hai Nguyên tắc Công lý ở đây, sẽ không hoàn tất nếu nó không giải quyết khả năng mất quân bình cho xã hội và đưa đến sự bất ổn định theo thời gian, dù cho công lý có được gia tăng. Rawls đặt vấn đề ổn định chính trị trên bình diện quan hệ chính trị giữa công dân và hệ thống định chế cấu trúc cơ bản của xã hội. Theo đó, thì bản chất liên đới chính trị này có hai khuôn mặt:
(a) Con người không có tự do để đi vào hay đi ra khỏi một cấu trúc chính trị cơ bản, như là một hội đoàn hay một tôn giáo. Mỗi công dân là một đơn vị chính trị, dù muốn hay không. Họ bước vào chính trị từ lúc sinh ra đời, và chỉ bước ra khi họ chết. Chính trị là một hệ thống kín cửa.
(b) Quyền lực chính trị mang theo nó là quyền cưỡng chế, nhân danh thẩm quyền luật pháp hay là bạo lực.

Từ hai khuôn mặt của tính liên đới giữa công dân và định chế xã hội, con người chính trị là công dân, được công nhận trên giá trị công lý chính trị, độc lập với các hệ thống giá trị toàn diện, dù không phủ nhận chúng (Rawls gọi vị thế này là “quan điểm đứng riêng” (free standing view). Con người chính trị như là công dân có khả năng và đức hạnh chính trị để có thể chấp nhận và dung thứ nhiều giá trị và nhu cầu không chính trị trong giới hạn tương đối rộng rãi và bao gồm của Hai Nguyên tắc Công lý. Đây là nguyên tắc “Đồng thuận chồng chéo” (overlapping consensus) để cho tất cả những năng động giá trị và đòi hỏi của xã hội được hòa hợp, sống chung và hòa giải, qua giá trị chính trị và năng động dân chủ quy trình.

Trong một chế độ dân chủ tư hữu mang nội dung cấp tiến được kiến tạo bằng hai Nguyên tắc Công lý này, với một định chế hiến pháp hợp lý và có khả năng, thì các mâu thuẫn tự nhiên về giá trị và ước vọng khác nhau sẽ được giải hóa trên cơ sở đa nguyên tính của bản sắc chính trị công lý này. Khi con người sống trong một nền dân chủ với định chế công lý này, khi họ là những công dân vừa phải, có lý tính, chấp nhận tính tương đối của thực tế con người và tập thể, họ dần dần sẽ về gần với giá trị trung hòa của quốc gia qua sự thăng tiến về cơ hội và ý thức mà Hai Nguyên tắc Công lý sẽ tạo nên. Khi họ chấp nhận và đồng thuận với cuộc chơi chính trị, khi mà dân chủ quy trình và nghị luận qua định chế lập pháp, khi mà chức năng hành pháp và tư pháp đóng đúng vai trò hiệu năng vừa phải, theo một nhịp độ tiến hóa theo môi trường dân trí và điều kiện kinh tế và nhân văn, thì nền chính trị công lý này sẽ có khả năng ổn định và bền vững lâu dài. Đây là điều mà Rawls gọi là một khả năng của “quân bình từ suy tưởng” (reflective equilibrium) trên cơ sở đồng thuận hợp lý của những con người lý tính và tốt lành với hai năng lực đạo đức cho nhu cầu công lý.

46. Công lý này có thể trở nên một thể loại chính trị sai lầm và tạo ra một xã hội bất ổn định?

Khi mô thức công lý chính trị đem con người từ bình diện giá trị toàn diện về tới cá thể công dân trên giá trị chính trị độc lập, nó có thể mang một nguy cơ: Mệnh lệnh công lý có khả năng đem xã hội vào một nội dung chính trị sai lầm. Hãy nhìn lịch sử chính trị thế giới trong thế kỷ Hai mươi khi chủ nghĩa Marxism hứa hẹn một giải pháp toàn diện cho vấn nạn công lý xã hội và kinh tế.

Trả lời: Theo mô thức công lý trên Hai Nguyên Tắc đề ra, và tất cả những phạm trù giá trị đi kèm theo, nhất là tiêu chuẩn “đồng thuận chồng chéo”, và nguyên tắc “Biện minh công khai” và “dân chủ quy trình,” mô thức công lý chính trị sẽ bảo đảm được một sự chọn lựa hợp lý, về gần cũng như về lâu dài, vì khả năng tự điều chỉnh, tự học hỏi của hệ thống dân chủ quy trình và nghị luận, suy tưởng. Lỗi lầm của công lý chính trị Marxism sẽ chỉ bị vướng vào khi một thiểu số ưu tú và năng động quyền lực chiếm thời cơ chính trị và độc đoán, độc quyền bảo hộ hết tất cả các giá trị công lý và chính trị cho quốc dân. Một định chế dân chủ tư hữu cấp tiến với một cấu trúc cơ bản công minh và công bằng, một hệ thống định chế dân chủ có thực chất qua một quy trình lập pháp hiệu năng với một nền tư pháp độc lập và có thẩm quyền tối cao thì ổn định chính trị có thể được duy trì theo khả năng ứng biến và điều chỉnh linh động trên nguyên tắc hợp lý và có khả năng công lý. Một xã hội bất công là một xã hội bất ổn.

47. Sáu lý do vì sao mô thức công lý chính trị này phù hợp với tâm lý chính trị của con người (2001: 196-7)

Có sáu lý do trên cơ sở tâm lý quần chúng và cá thể để biện minh rằng Hai Nguyên tắc Công lý sẽ kiến tạo được một xã hội ổn định và tiến hóa quân bình lâu dài.

(i) Trên cơ bản của một con người chính trị với hai năng lực đạo đức (xem # 8), công dân sẽ có khả năng về một ý niệm về thiện lành và khả năng tiếp nhận những ý niệm công lý để mà hành xử theo ý niệm này. Tức là, họ có khả năng cả về vừa phải và hợp lý.
(ii) Khi họ cảm thấy và tin rằng các định chế xã hội là công bằng và công lý, và tha nhân cũng sẽ thấy như vậy, công dân sẽ sẵn sàng tham dự vào việc nước theo cung cách và khả năng của mình một cách tích cực để duy trì và phát huy công lý từ đó.
(iii) Khi công dân có chủ đích thực hữu để đóng góp vào cơ chế mà họ tin vào thì sự tin tưởng này sẽ gia tăng cả hai chiều, từ cá thể đến định chế và ngược lại, cũng như giữa con người và con người trong xã hội. Từ đó, tổng lượng của chữ tín sẽ gia tăng và khả năng hòa giải cho những xung đột và mâu thuẫn cũng trở nên dễ dàng hơn.
(iv) Khi khả năng đạo đức công dân gia tăng với mức độ và số vốn chữ tín trong xã hội cũng phát triển vừa đủ, thì sự hợp tác giữa xã hội và công dân ngày càng bền vững và sâu rộng, lâu dài, và tự do cũng như quyền hạn công dân cũng bảo đảm, gia tăng và phát huy.
(v) Công dân sẽ đến lúc công nhận những điều kiện khách quan và có sẵn của hiện trạng xã hội từ một bối cảnh truyền thống và lịch sử cho một xã hội dân chủ hiện nay: (a) nó phải là đa nguyên hợp lý (reasonable pluralism); (b) nó là trường cửu, ngoại trừ, (c) tính đa nguyên này bị phá bỏ và vi phạm bởi một chế độ chuyên chính, độc tài; (d) công dân sẽ tham dự vào và chấp nhận gánh nặng phát xét lẫn nhau trong xã hội dân chủ đa nguyên.
(vi) Từ trong thực tế khan hiếm của cơ hội và thực tế cạnh tranh khó khăn cho đời sống, công dân sẽ chấp nhận luật chơi công bình và công lý trong một xã hội có cấu trúc cơ bản và định chế công lý sòng phẳng, minh bạch, hiệu năng, hợp lý và tình.

***

48. Trong đoạn văn cuối cùng của Luận Thuyết, trong nỗ lực biện minh cho ý niệm “vị thế nguyên thuỷ” của học thuyết công lý này, Rawls viết về tính trung hòa và không lịch sử, vượt thời gian của những con người tự nơi mình có lý tưởng và khả năng công lý đi tìm công lý cho tất cả, như là một giả thuyết cần thiết, rằng,

Cái viễn cảnh về vĩnh cửu (trên quan điểm công lý) không phải là từ quan điểm của một nơi vượt qua khỏi thế gian này, hay là từ một tính thể siêu nghiệm – mà là một thể thức tư duy và cảm nhận mà con người lý trí có thể chấp nhận được trong bối cảnh thế giới này. Và khi đã làm được như vậy, họ có thể, dù ở bất cứ thế hệ nào, đem tất cả cá nhân về lại chung qua sự đồng thuận về một hệ thức bao gồm nhiều quan điểm, để từ đó, thiết lập nên những nguyên tắc cai quản lẫn nhau vốn được chấp nhận bởi mọi người khi họ sống với những nguyên tắc này tuỳ theo quan điểm của từng cá nhân. Sự trong lành của trái tim, nếu đạt được như thế, bao gồm một viễn kiến minh bạch để con người có thể tác hành và sinh động từ quan điểm này trong trang trọng và có chủ đích.(1971: 587)

49. Đối với người Việt Nam hiện nay, ở mọi nơi, trong và ngoài nước, thuộc nhiều thế hệ với những niềm tin và lịch sử cá nhân khác nhau, nhiều lúc mâu thuẫn, đối nghịch, khi đứng nhìn tới cơ đồ dân tộc Việt, khởi đi từ một nội dung chính trị trang trọng và văn minh nhưng chính trực và cương quyết của những con người có nhân phẩm, cùng nhau muốn kiến tạo một nền tảng chính trị công lý cho quốc gia, vượt lên trên tất cả các nhu cầu và điều kiện thực nghiệm đặc thù, thì trước hết, chúng ta hãy cùng đi đến một đồng thuận cơ bản: Rằng điều kiện tối thượng tiên quyết cho một xã hội công lý là quốc dân Việt Nam phải được tự do.

CHÚ THÍCH

* Tham luận đọc tại Hội Thảo Hè 2006, Berkeley, California. Tôi xin cảm ơn Giáo sư Vũ Quang Việt đã đọc và đề nghị nhiều sửa đổi cho bản thảo, giáo sư Trần Hữu Dũng nhắc về lãnh vực kinh tế học và triết học của Robert Nozick, Trần Trung Việt của Danchimviet.com góp ý thêm về văn bản, và các khán thính giả tại Hội thảo hè 2006 đã góp ý trong phần thảo luận về nội dung bài viết này.
1. “Theory” tôi dịch là “Luận thuyết” thay vì “Lý thuyết” hay “Học thuyết.” Luận thuyết mang tính chất thảo luận, bàn cãi (discourse) hơn là một tiền đề lý giải (lý thuyết) hay là một chủ trương học thuật (học thuyết). Hai tác phẩm sử dụng cho bài này là John Rawls, A Theory of Justice (Cambridge: Harvard University Press, 1971) và xem (2) dưới đây.
2. John Rawls, Justice as Fairness. A Restatement (Cambridge: Harvard University Press, 2001)
3. Do số lượng quá lớn của sách và những bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về kinh tế, chính trị, triết học, luật pháp và xã hội học về Luận Thuyết của Rawls trong suốt ba mươi năm qua không cho phép chúng tôi trích dẫn được. Trong khuôn khổ bài này, chúng tôi chỉ muốn giới thiệu sơ lược về Luận Thuyết mà không thể bàn sâu hơn. Dù rằng Luận Thuyết đã được dịch ra trên ba mươi thứ tiếng trên thế giới, nhưng theo chỗ tôi biết thì chưa có bản dịch Việt ngữ cho tác phẩm này. Tác phẩm đối trọng quan yếu nhất đối với Luận Thuyết là của Robert Nozick, Anarchy, State, and Utopia (1974), trong đó Nozick đưa ra một trường phái triết học chính trị của phía libertarianism (cổ võ cho một vai trò tối thiểu của chính quyền) chấp nhận kết quả bất công của xã hội nếu sự phân phối quyền lợi được làm nên bởi những con người trưởng thành, trên cơ bản tự nguyện và được khởi đi từ một điểm công bằng.
4. Về một định nghĩa cho chủ thuyết “hữu dụng” (utilitarianism): Xem C (1).
5. David Hume (1711-76): Triết gia gốc Scotland (Tô Cách Lan). Mặc dù Hume chưa thực sự nêu rõ thuyết hữu dụng một cách có hệ thống, nhưng những lý luận cơ bản về giá trị và đạo đức theo cơ bản tri thức luận của ông đã tạo nên truyền thống hữu dụng luận tiếp theo. Hai tác phẩm ảnh hưởng lớn đến hữu dụng luận của Hume là An Inquiryconcerning the Principles of Morals (1751) và Essays: Morals, Political and Literary (1741). Adam Smith (1723-90): Triết gia gốc Tô Cách Lan, tác giả của hai tác phẩm mang ảnh hưởng lớn về đạo đức và kinh tế, The Theory of Moral Sentiments (1759) và Wealth of Nations (1776). Jemery Bentham (1748-1832): Triết gia Anh về chính trị và đạo đức, cùng với Mill, là cha đẻ của thuyết hữu dụng cổ điển. Tác phẩm chính, An Introduction to the Principles of Morals and Legistration (1789). John Stuart Mill (1806-73): triế gia phiên giải nền tảng của hữu dụng luận có hệ thống trong tác phẩm Utilitarianism (1861). Tác phẩm khác lừng danh khác của Mill là On Liberty (1860).
6. “Trực giác luận” (Intuitionism) chủ trương rằng, về phương diện đạo đức, con người có khả năng tự nhiên nhận ra cái đúng và sai mà không cần đặt trên cơ sở lý luận, cảm giác, suy tưởng, hay trí nhớ. Tức là, đức hạnh là những sự thật hiển nhiên (self-evident truths) như những định đề toán học cơ bản mà đã là con người sẽ phải nhận thức ra chúng khi đối diện với vấn đề của luân lý.
7. – John Locke (1632-1704): Triết gia Anh, nổi tiếng là cha đẻ của trường phái Empiricism (Thực nghiệm luận). Tác phẩm quan yếu: Essay concerning Human Understanding (1869) và Second Treaty of Government (1869).
– Jean-Jacques Rousseau (1712-78): Triết gia Pháp, cùng với Locke và Hobbes, được xem là cha đẻ của thuyết “Khế ước xã hội” (Social contract). Hai tác phẩm quan trọng là Discourse on the Origin and Foundation of Inequality among Mankind (1755) và The Social Contract or Principles of Political Rights (1762).
– Immanuel Kant (1724-1804): Một trong những triết gia người Đức quan trọng nhất của triết học tây phương trong vai trò nâng cao vai trò lý tính trong siêu hình học và đạo đức. Tác phẩm quan trọng nhất là Crtique of Pure Reason (1781) (Xem Phế phán Lý tính Thuần tuý (2004), bản dịch Việt ngữ của Bùi Văn Nam Sơn, NXB Văn Học, Hà Nội). Sau đó là một loạt sách về Phê phán đạo đức và luân lý, trong đó có Critique of Practical Reason (1788) và Metaphysics of Morals (1797).
8. Xem # 42 về các trả lời của Rawls đối với những chỉ trích trên cơ sở Marxism đối với Luận Thuyết.
9. “Hệ thống lý thuyết toàn diện” hay “chủ thuyết toàn diện” (comprehensive doctrine) đòi giải quyết tất cả mọi phương diện của chính trị và xã hội, kể cả vấn đề bản thể luận và siêu hình. Chủ thuyết Hegel, Marxism hay các giáo điều tôn giáo, điển hình, là những chủ thuyết toàn diện. Rawls nhấn mạnh rằng Luận Thuyết là một “luận thuyết mỏng” (thin theory) hay là một “quan điểm đứng tự do” (free-standing view) vốn chỉ nhìn công lý trên cơ bản chính trị (justice as fairness as a political conception). Luận Thuyết không khẳng định hay phủ nhận các chủ thuyết toàn diện mà nó chỉ cổ võ cho một tình trạng đa nguyên giá trị vừa phải và hợp lý bằng nguyên tắc “thỏa thuận chồng chéo” (overlapping consensus).
10. John Rawls, Political Liberalism (New York: Columbia University Press, 1996)
11. – Thomas Hobbes (1588-1679): Triết gia người Anh vốn đã ảnh hưởng lớn đến các lý thuyết dân chủ Tây phương, đặc biệt là dân chủ Hoa Kỳ. Tác phẩm quan yếu là Leviathan (1651) . Quan điểm nổi tiếng của Hobbes là, “Cái gì là công lý hay bất công được quyết định bởi luật pháp quốc gia, chứ không phải là đạo đức hay vô đạo đức.” (“What is just or unjust is determined by the laws of the state, what is moral and immoral is not”).
– Baron de La Brede et de Montesquieu (Chức danh của Charles-Louis de Secondat) (1689-1755): Triết gia chính trị Pháp, được coi là tiếng nói lương tâm chính trị của Âu Châu cho phong trào Khai Sáng. Tác phẩm quan trọng, L’Esprit des lois (1748) đặt nền tảng triết luận cho một chính thể cộng hòa với nguyên tắc tam quyền, lập, hành và tư pháp, được phân lập và tách biệt.
12. Georg W. F. Hegel 1770-1831): Triết gia Đức, cha đẻ của “Duy tâm tuyệt đối luận”. Tác phẩm chính, Phanomenology des Geists, (Hiện tượng luận về Tinh thần) (1807). Bản Việt ngữ của Bùi Văn Nam Sơn, Hiện tượng học tinh thần, NXB Văn Học, 2006). Ở đây, Rawls trích câu này từ Rechtsphilosophie (Triết học Pháp quyền) (1820) trong đó Hegel nói thêm về ý nghĩa hòa giải (reconcilliation) giữa triết học và thực tại như vậy, “Khi công nhận trí năng (reason) như là một bông hồng trên thập tự giá của hiện tại để mà thưởng ngoạn được hiện tại, đó chính là khi trực nghiệm lý tính (rational insight) cho phép chúng ta hóa giải được với thực tại (the actual), một thứ hòa giải mà triết học cho phép đến những ai có một tiếng gọi từ bên trong muốn thấu hiểu được vấn đề.” (Lời Nói Đầu). Xem Nguyễn Hữu Liêm, Tự do và đạo lý: Một khai giải về triết học pháp quyền của Hegel (NXB Biển Mới, California, 1993), cho một phiên giải bằng Việt ngữ của tác phẩm Triết học pháp quyền của Hegel.
13. Công lý có hai phương diện: Nội dung (substantive) và quy trình (thủ tục) (procedural). Rawls đưa ra một thí dụ về công lý quy trình nhằm bảo đảm công lý trên căn bản thuờng nghiệm: Một số người (ví dụ 10) đồng muốn cắt chia một chiếc bánh. Muốn công bằng thì hãy để cho người cầm dao quyết định cắt bánh như thế nào là người cuối cùng lấy phần của mình. (1971:85) Công lý quy trình không bảo đảm kết quả, mà chỉ bảo đảm tính khách quan, vô tư và công minh cho luật chơi.
14. “Tình trạng tiền chính trị” (Pre-political condition): Một giả định về tình trạng tâm lý và xã hội của con người trước khi sống trên tư cách công dân của một quốc gia với hệ thống chính trị, luật pháp và công quyền. Đây là giả định lý thuyết của Hobbes và Locke như là giả định về “Màn Vô minh” từ vị thế nguyên thuỷ cho Hai Nguyên tắc công lý của Rawls.
15. “Tình trạng thiên nhiên” của Rousseau nói về một mẫu người nguyên trạng với cá thể chính mình trong “ý chí đặc thù” (particular will) khi họ còn chưa bị cai chế bởi định chế chính trị và giá trị cộng đồng, tức là “ý chí phổ quát” (general will), thông qua sự tham dự vào một “khế ước xã hội” giữa công dân và quốc gia..
16. Hai Nguyên Tắc Công Lý được Rawls thay đổi ít nhiều, phần lớn là về hình thức và hành văn, từ lúc chúng được đưa ra năm 1971 cho đến 2001. Ở đây, tôi chọn văn bản được cập nhật năm 2001 trong cuốn Restatement.
17. Quy tắc chọn lựa Maximin (Maximum-minimorum): “To identify the worse outcome of each available alternative and then to adopt the alternative whose worst outcome is better than the worst outcomes of all the other alternatives.” (2001: 97)
18. Aristotle (384-322 B.C.): Triết gia hàng đầu của Hy lạp, là học trò của Plato (427-347 B.C.). Hai tác phẩm quan trọng về triết học chính trị là Politics và Nicomachean Ethics.

Trong những ngày cuối năm ấm áp, tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm từ Hoa Kỳ đã gửi đến cho Diễn đàn Triết học Việt Nam một bài viết mới của ông: Một lý thuyết về công lý. Diễn đàn triết học Việt Nam xin được trích đăng ra từng kỳ, đồng thời đăng tất cả dưới dạng pdf.
Mời các bạn tải về dưới dạng pdf: http://adf.ly/1iZBhl
(Chờ 5 giây, nhấn vào Skip ad ở góc trên bên phải màn hình để bỏ qua quảng cáo )

Advertisements