G. Hai Nguyên Tắc Công Lý

19. Nguyên Tắc Thứ Nhất: Mỗi người đều có quyền hạn không thể bị xóa bỏ trong một hệ thống bảo đảm toàn diện các quyền tự do căn bản tương xứng với quyền tự do cho tất cả (Each person has the same right (indefeasible claim) to a fully adequate scheme of equal basic liberties, which scheme is compatible with the same scheme of liberties for all); và

20. Nguyên tắc Thứ Hai: Những bất bình đẳng xã hội và kinh tế phải thỏa mãn hai điều kiện: thứ nhất, những bất bình đẳng này gắn liền với chức vụ và vị thế vốn được mở rộng cho mọi người trên cơ sở bình đẳng và công bằng cơ hội; và thứ hai, chúng phải vì lợi ích cao nhất cho những thành phần chịu nhiều bất lợi nhất trong xã hội (Social and economic inequalities are to satisfy two conditions: first, they are to be attached to offices and positions open to all under conditions of fair equality of opportunity; and second, they are to be to the greatest benefit of the least-advantaged members of society). Rawls gọi phần thứ nhì (vì lợi ích của giới bất lợi nhất) của nguyên tắc thứ Hai là nguyên tắc phân biệt (the difference principle) (2001: 42-43). (16)

Nguyên tắc thứ nhất là ưu tiên, được gọi là “nguyên tắc bình đẳng tự do” (the equal liberty principle) nhấn mạnh đến quyền hạn tư do cơ bản là tối cao. Nguyên tắc thứ hai nhấn mạnh đến bình đẳng cơ hội tiến thân là ưu tiên – so với nguyên tắc phân biệt (the difference principle). Bình đẳng trên cơ hội tiến thân ở đây không chỉ nhắm đến một thể loại bình đẳng thể thức (formal equality), nhưng mà là một bình đẳng công bằng (fair equality) trong khả thể và khả năng tiến thân mà định chế và chính sách xã hội cho phép.

21. Tự Do Cơ Bản (2001:44-45)

Bao gồm các quyền: Tự do tư tưởng (freedom of thought), quyền hạn về niềm tin (liberty conscience), quyển tự do chính trị (ứng cử, bầu cử), quyền tự do tham gia hội đoàn và lập hội, quyền cá nhân con người được tôn trọng (integrity, physical and psychological, of the person), quyền tài sản, và cuối cùng là các tự do và quyền hạn này được bảo vệ bởi pháp chế (the rule of law).

Các quyền tự do cơ bản này là các quyền chính trị. Tấ cả các phạm trù của nó, cả về freedom, tự do mang bản sắc giá trị và điều kiện, và liberties, tự do như là quyền hạn, cả hai đều mang bản sắc chính trị. Từ đó, Luận Thuyết về Công Lý là một tuyên ngôn chính trị về các quyền tự do cơ bản của con người. Nó bao gồm các quyền về tự do tư tưởng, báo chí, hội đoàn, tôn giáo, triết học, đạo đức, tín ngưỡng. Tự do chính trị bao gồm tự do tham chính, bầu cử, quyền được đại diện bởi cơ chế và định chế dân chủ, tự do hội họp, biểu tình ôn hòa, tự do không bị khám xét cơ thể và gia cư vô lý, tự do đi lại, cư trú, nghề nghiệp và không bị cưỡng bách lao động và nô lệ. Tất cả các quyền hạn và tự do phải được bảo vệ có thực chất và hiệu năng, công bằng pháp chế, phát xuất từ một chế độ chính trị dân chủ đại diện và qua cơ chế của quy trình nghị trường và kiểm soát lẫn nhau, bảo đảm sự tham dự và đóng góp vào tiến trình làm luật của quốc dân với quốc hội, hành pháp, áp dụng, phiên giải và giới hạn bởi một tư pháp độc lập, hiệu năng.

Một chế độ chính trị trên mô thức của hai Nguyên tắc Công lý đặt ưu tiên quyền hạn (right) lên trên cái tốt lành (good) – dù rằng cái gì là tốt được định nghĩa quá các quyền hạn tự do và dân quyền căn bản. Rawls gọi một khái niệm chính trị như vậy về tốt lành là “lý thuyết mỏng” (the thin theory) nhằm tránh bàn đến những vấn đề luận lý và nội dung của một chủ thuyết dành ưu tiên cái tốt lên trên quyền hạn, như tôn giáo chẳng hạn.(18)

23. Tự do được định nghĩa bởi quyền hạn trong nghĩa vụ

Công lý trên cơ sở công bằng dành ưu tiên cho các quyền tự do cơ bản – và công lý là một hiện thân của năng lực tự do. Khi cấu trúc cơ bản là công lý, các định chế xã hội là công minh, người công dân tự do là người có trách nhiệm hỗ tương trên chức năng xã hội của mình. Đây là nền tảng của bổn phận (duty) – nghĩa vụ từ vị thế công dân tự do, hợp lý, và công bằng, và trách nhiệm (responsibility) – nghĩa vụ từ hoàn cảnh đặc thù, mà nếu không làm một cách tự nghuyện thì ta phải mắc món nợ xã hội. Vì thế, nếu định chế và cuấ trúc xã hội mà bất công thì công dân không phải là công dân đúng nghĩa, do đó, họ không có nghĩa vụ. Khi chế độ chính trị bất công, vô lý thì đó chỉ là một hình thức khủng bố, bạo lực, và áp chế. Nghĩa vụ và trách nhiệm công dân chỉ đến khi quyền tự do cơ bản và công dân được tôn trọng như là những cá thể có thẩm quyền chính trị, bình đẳng và có nhân phẩm.

24. Bổn phận chấp hành luật pháp bất công: Quy tắc Maximin

Tuy nhiên, luật pháp bất công không phải là biện minh đủ để cho công dân có quyền bất tuân, bất chấp luật pháp; và ngược lại, một đạo luật hợp hiến chưa hẵn là lý do đủ để nó phải được tôn trọng. Trong một xã hội “gần công lý” (near-just society), vấn đề bất tuân luật pháp là một sự đánh giá trên cơ sở tự do và dân quyền căn bản. Hiến pháp quốc gia có tôn trọng quyền tự do cơ bản? Hệ thống định chế công quyền có công bằng và hợp lý? Đến mức độ nào thì một bộ luật bất công vi phạm quyền công dân cơ bản? Và nếu phản đối, bất tuân thủ luật pháp thì theo hình thức nào? Các chọn lựa từ nhẹ đến nặng là tuỳ theo mức độ và bối cảnh bất công của chế độ chính trị: Biểu tình bất bạo động, bất hợp tác, từ chối trả thuế hay không tham gia bầu cử, hay là sẵn sàng bị bắt, đi tù để tranh đấu.

Bởi vì nếu không có một sự cân bằng vừa phải và hợp lý, thì tình trạng bất tuân luật pháp sẽ tạo ra những bất ổn chính trị và xã hội lớn hơn, làm cho tổng thể tự do và dân quyền càng bị suy thoái hơn – ngoại trừ sự bất ổn đó được chọn lựa như là mộ khả thể tối ưu, nhưng cần thiết, dù là không phải là tốt đẹp nếu có chọn lựa khác tốt hơn. Đây là biện minh chọn lựa chính trị theo “quy tắc Maximin” (chọn con đường nào mà kết quả tồi tệ nhất của nó sẽ là tốt đẹp hơn là tất cả các kết quả tồi tệ của các con đường khác) (17) để bãi bỏ một hệ thống cấu trúc cơ bản quá bất công, vô lý và áp chế không còn khả thi cải tổ.

25. Nguyên tắc Công lý là công bằng, justice as fairness, vì thế, là một công lý trên cơ sở cá nhân với nền tảng giá trị ưu tiên cho quyền tự do chính trị. Luật pháp chỉ có thể giới hạn tự do khi nào sự giới hạn đó sẽ đem đến một tự do và quyền hạn rộng lớn hơn cho tất cả – nhất là cho thành phần yếu kém trong xã hội. Do đó, tuỳ trường hợp mà ưu tiên tự do cá nhân phải được hy sinh cho cơ hội của những kẻ bị thất thế. Tự do cơ bản của nguyên tắc thứ nhất là tối thượng và chỉ có thể bị giới hạn cho một mục tiêu tự do phổ quát hơn. Ví dụ, một đại học có thể đối xử phân biệt trên cơ sở da màu vỉ muốn gia tăng sự hiện diện của một thiểu số chủng tộc nào đó, khi sự phân biệt này làm cho tự do của tất cả mọi người được gia tăng. Giới hạn tự do trong quân đội đối với binh sĩ phải được biện minh bởi nhu cầu ưu tiên vì tự do của quốc dân. Mục tiêu hiệu năng của chính sách nhỏ, như là gia tăng sản xuất cho một kỹ nghệ quốc doanh, không thể là một biện minh để có chính sách giới hạn tự do kinh tế của mọi người.

26. Các quyền này đến từ đâu? Có hai nguồn gốc của các quyền tự do căn bản. Một là lịch sử; hai là qua suy tưởng của phân tích. Chúng ta hãy thử hỏi, “Tự do và quyền hạn nào là những điều kiện xã hội cần thiết cho sự phát triển có hiệu năng và sự thực thi tốt đẹp cho hai năng lực đạo đức, công lý và thiện lành, cho con người trong suốt cuộc đời của họ?” Từ câu hỏi này, chúng ta nhìn lại lịch sử, phân tích bản chất con người và xã hội, nhận định điều kiện và hoàn cảnh đương thời nhằm tìm ra những quyền tự do cần thiết với những điều kiện và giới hạn của chúng trên cơ sở cá nhân sống với xã hội. Ví dụ, quyền tư tưởng hay tín ngưỡng, bao gồm quyền được sai lầm, quyền không tin tưởng, và khả năng tôn trọng quyền như vậy của tha nhân. (2001:45)

Làm thế nào để bảo đảm được các quyền tự do chính trị cơ bản không bị tập trung vào một thiểu số là vấn nạn của cán cân công lý mà điều kiện “công bằng cơ hội” và “công bằng giá trị” của quyền hạn và tự do phải được bảo đảm bởi pháp chế và điều kiện xã hội mà trong đó, cơ hội chính trị và kinh tế, giáo dục là tối cần thiết song song với công lý của quy trình và thủ tục, political and legal due process, phải được công minh và hợp lý.

Rawls quan niệm rằng đối với các quyền như quyền thừa hưởng gia tài, quyền kiểm soát phương tiện kinh tế hay đặc sản thiên nhiên thì không thể gọi là quyền tự do cơ bản.

27. Giải thích thêm về nguyên tắc thứ hai, tức là “nguyên tắc phân biệt” (the difference principle): Một trật tự xã hội công lý có quyền phân biệt đối xử nếu làm như vậy sẽ tạo cơ hội và thực tế tiến thân và làm tốt đẹp hơn cho các thành phần yếu kém bây giờ. Ví dụ, trong một đại học, lương của giáo sư là cao hơn lương của anh thư ký hành chánh, với điều kiện là cơ hội của chức vụ giáo sư được mở rộng đồng đều và công bằng cho anh thư ký và sự khác biệt về tiền lương là hợp lý (công việc đòi hỏi tài năng cao, giáo dục nhiều và lâu dài) cho một tổng thề quyền hạn và tự do cho mọi người tham dự. Nhưng một chính sách chỉ làm giàu thêm cho kẻ đã giàu, ví dụ giảm thuế cho chủ nhân các công ty lớn vì muốn khuyến khích đầu tư, trong khi gia tăng thuế cho kẻ lao động, thì sẽ không chấp nhận được trên cán cân của công lý nếu kết quả của chính sách này chỉ tạo thêm những khiếm khuyết về cơ hội và quyền hạn kinh tế chính trị cho kẻ thất cơ, yếu thế trong cộng đồng kinh tế liên đới. Nguyên tắc công lý thứ hai mang nhiều màu sắc xã hội chủ nghĩa và không ít thì nhiều mang bản sắc hữu dụng.

28. Công lý theo thể loại nào? Nguyên tắc thứ nhất nhấn mạnh và ưu tiên hóa gần như tuyệt đối các quyền tự do cơ bản mang bản sắc công lý tự do chính trị; trong khi, nguyên tắc thứ hai nhấn mạnh đến công lý phân phối (distributive justice). Đây không phải là công lý có sẵn đem phân bổ (allocative), vốn chỉ đương đầu với một số lượng công lý có sẵn, hay là công lý “đòi nợ” (retributive), vốn dựa trên vấn đề lịch sử. Và đây cũng không phải là một loại công lý siêu hình trên cơ sở toàn diện và tuyệt đối.

Công lý phân phối là phương thức cho vấn nạn này: Làm thế nào để những định chế của cấu trúc cơ bản có thể là khí cụ và được cai chế trong một hệ thống thống nhất để cho sự hợp tác của xã hội có thể được thực thi một cách công bằng, hiệu năng và có kết quả từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp? Như vậy, nguyên tắc công lý phân hành phải là thứ yếu theo trật tự ưu tiên công lý của tự do sau khi cấu trúc xã hội đã được vượt qua những giai đoạn chuyển hóa và lột bỏ màn vô minh cho con người (bàn dưới đây), mà việc tiên quyết là thiết lập một định chế chính trị và cấu trúc nền tảng bằng một hiến pháp như là bộ luật tối thượng của quốc gia nhằm bảo đảm và thực thi được các quyền tự do chính trị căn bản.

29. Bốn giai đoạn thực thi cho hai Nguyên tắc Công lý

Màn vô minh sẽ được tháo gỡ theo tiến trình hiện thực hóa công lý chính trị bao gồm bốn giai đoạn.

– Thứ nhất: Từ đằng sau màn vô minh, các đại biểu chấp nhận hai Nguyên tắc Công lý;
– Tiếp theo đó là sự tiến hành trong ba giai đoạn nhằm từ từ tháo bỏ cái màn vô minh nhằm thực thi toàn bộ và hiệu quả hai nguyên tắc;
– Công tác căn bản thứ hai là triệu tập một hội nghị lập hiến (constitutional convention) nhằm thiết lập các định chế chính trị và luật pháp cơ bản quốc gia qua ba phân ngành tách biệt với những đều khoản về dân quyền và công dân quyền được công nhận và quy định;
– Thứ ba, là khi quốc hội và hành pháp cùng chính thức đưa ra những đạo luật nhằm thực thi các yếu tố cần thiết cho quyền tự do chính trị cơ bản;
– Giai đoạn cuối, thứ tư, là khi các đạo luật được thực thi bởi các cơ chế công quyền, qua quy trình và pháp quy hành chánh, trong khi các mâu thuẫn về thực tế và sự kiện cũng như sự phiên giải và áp dụng vào đời sống sẽ là vai trò chính của ngành tư pháp (judiciary). (2001: 48-49)

30. Chỉ tiêu của công lý là ở cấu trúc cơ bản (2001: 52-58)

a. Lý do thứ nhất: Thực tế lịch sử, xã hội và kinh tế không cho phép chúng ta cái xa xỉ bỏ qua tất cả những bất công hiện thời để rồi có thể thiết lập một tiến trình chính sách cho công lý mà không thiết lập lại một điều kiện bối cảnh công bằng (fair background conditions) cho lý tưởng công lý. Để có được một bối cảnh công bằng, định chế quốc gia, tức hiến pháp và các bộ luật cơ bản, phải bảo đảm được chức năng bảo vệ và phát huy quyền tự do chính trị và làm người cơ bản, đồng lúc bảo đảm một hệ trình tiến bộ trong công lý xã hội và kinh tế vốn cần thời gian và sự gia tăng trình độ dân trí. Đây là phần vụ quan yếu của cái mà Rawls gọi là “quy luật về tiến trình, thủ tục thuần túy cho bối cảnh công lý” (the rules of pure procedural background justice). Quy luật về tiến trình này bao gồm hai phương diện: Một là về vĩ mô đối với các định chế cơ bản về quyền hạn và tự do; hai là về vi mô đối với các tương quan giữa cá nhân và các tổ chức trong xã hội dân sự và kinh tế.
b. Lý do thứ hai: Công lý trên cơ sở công bằng chỉ có thể thực thi bởi định chế và cấu trúc chính trị cơ bản – mà nếu không có, thì công lý không thể có được. Con người trong một xã hội phải là công dân của quốc gia, và vì thế, họ phải chịu sự cai chế và ảnh hưởng nặng nề bởi định chế công quyền cơ bản. Mỗi công dân sinh ra trong một quốc gia, sống, và rồi đi ra khỏi bằng cái chết. Và xã hội đó bao giờ cũng chứa đầy bất công và bất bình đẳng. Bởi thế hai Nguyên tắc Công lý như là công bằng phải giải quyết những bất công qua định chế của cấu trúc cơ bản nhằm giảm thiểu những phân phối không đồng đều của con người trong hoàn cảnh cá nhân của họ vì nhiều lý do từ giai cấp, thừa kế, khả năng bẩm sinh, hay là may rủi trong suốt cả cuộc đời. Công lý chính trị và xã hội phải đưa cơ hội thăng tiến đến cho triển vọng cuộc đời (life-prospects) cho mọi công dân trong cuộc.

31. Những giá trị và quyền hạn cơ bản (primary goods)

Để minh định những kẻ yếu thế là ai thì điều cần thiết là minh xác những giá trị và quyền hạn cơ bản sau:

i. Quyền hạn và tự do cơ bản: Tự do tư tưởng và tự do lương tâm – vốn tối cần cho sự phát huy hai năng lực đạo đức công lý của cá nhân.
ii. Tự do đi lại, nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến trong xã hội.
iii. Quyền hạn và trách nhiệm của vị thế và chức năng công quyền và xã hội
iv. Lợi tức và của cải
v. Cơ sở xã hội để phát huy nhân cách hay tinh thần tự trọng (social bases of self-respect) mà trong đó con người tôn trọng chính mình vì định chế xã hội tôn trọng nhân phẩm của mình – khác với tự trọng (self-respect) trên cơ bản từng cá nhân. (2001: 58-59)

Muốn là một công dân đúng nghĩa, tức là một con người có khả năng tham dự cuộc chơi xã hội, họ phải có những giá trị và quyền hạn căn bản trên. Các quyền này là những gì cấu tạo nên một ý niệm tổng thể cho nhu cầu công lý trong một bối cảnh quốc gia và xã hội bao gồm nhiều hệ ý thức hay triết học, niềm tin, giá trị hay tôn giáo khác biệt và đối nghịch nhau. Các sản phẩm cơ bản “primary goods” là các yếu tố nền tảng cho một cơ chế quốc gia có thể tồn tại và sinh động có hiệu năng và giá trị. Mục tiêu của một chế độ công lý là nâng cao số lượng và phẩm chất của những “primary goods” này. Những ai có ít số lượng và phẩm chất của chúng là những kẻ “yếu kém” cần phải được chú trọng trong định chế và chính sách thăng tiến cho họ.

32. Công dân có thể mong mỏi được quyền lợi nào?

Nguyên tắc công lý phân phối đặt cơ sở trên tiêu chuẩn đòi hỏi hợp lý (legitimate claims) và được hưởng những gì mình xứng đáng (earned entitlements). Họ tôn trọng luật chơi và mong mỏi rằng trò chơi sẽ công bằng dù họ có bị thua. Vấn đề là quy luật phải công minh, rõ ràng, không thiên vị và không bất công khi áp dụng. Khẩu hiệu ở đây là: “Những gì cá nhân làm tuỳ thuộc vào những gì mà quy luật và khế ước xã hội đồng ý họ sẽ được hưởng; những gì họ được hưởng tuỳ vào những gì họ làm.” (1971:84) (So với Marx trong Phê phán chương trình Gotha: “Mỗi người lao động theo khả năng, và được hưởng theo nhu cầu”)

Cá nhân trong bối cảnh quyền hạn và nghĩa vụ sẽ không được phán xét trên cơ sở đạo đức hay theo giá trị tôn giáo siêu hình vì mỗi con người là một công dân trong một tập hợp xã hội đa nguyên và đa dạng mà nhiều nguyên tắc đạo đức siêu hình có thể mâu thuẫn và đối nghịch lẫn nhau. Những gì mà công dân có quyền hưởng tuỳ vào sự đóng góp vào hệ trình chung của cơ đồ công lý. Đây là điều kiện “có qua, có lại” trên cơ sở trách nhiệm và quyền lợi hỗ tương. Không ai có quyền thừa hưởng trên cơ sở đạo đức chỉ vì họ làm người (moral desert); (2001: 72-73) nhưng họ có quyền lợi, từ trong một xã hội công lý và công bằng, đóng vai trò công dân theo khả năng và hoàn cảnh, do đó, họ phải được hưởng những quyền hạn và quyền lợi như thế (just entitlement). (2001: 72-74)

33. Ý niệm về “Lý lẽ Công ” (the Idea of Public Reason) trên một cơ sở biện minh công khai (Public Basis of Justification) (2001: 89-94)

Nếu chúng ta muốn hai Nguyên tắc Công lý có thể được chấp nhận phổ cập và có hiệu năng, thì phải có một cơ sở biện minh công khai, một quy chế cho đồng thuận, cho tiến trình nghi vấn, tìm hiểu, thắc mắc cho quần chúng. Quy chế này phải có một tiêu chuẩn thủ tục, tiêu chuẩn bằng chứng, nhằm gia tăng hiệu năng tham dự của công dân trong các vấn đề tranh luận chính trị. Vì thế, khế ước nguyên thuỷ cho hai Nguyên tắc Công lý phải bao gồm hai phần:
– Đồng thuận về những nguyên tắc công lý chính trị cho cấu trúc cơ bản; và
– Đồng thuận về những nguyên tắc lý luận (lý lẽ thông thường) và quy chế bằng chứng (tiêu chuẩn khoa học khách quan) cho việc quyết định sự áp dụng của hai Nguyên tắc Công lý, áp dụng đến mức độ nào, và luật pháp và chính sách nào là thích ứng cho nhu cầu công lý đương thời. Trên phương diện đạo đức công dân, tinh thần vừa phải, ôn hòa, công bằng cũng là một phần của giá trị biện minh công khai nhằm đạt được một nội dung chính trị công dân trên cơ bản tôn trọng lẫn nhau như là những con người vừa phải, hợp lý và lý tính. Đây là giá trị của văn minh công vụ (public civility) nhằm bảo đảm được một biên độ quy tắc và định chế vừa phải cho những khác biệt chính kiến – tránh được các nạn khẩu hiệu tình cảm, giáo điều về tư tưởng chính trị và niềm tin.
Từ đó, lý lẽ biện minh công khai sẽ là một giá trị chính trị thứ nhì sau nhưng giá trị chính trị của các quyền hạn và tự do căn bản. Theo Rawls, chúng ta quan tâm đến lý tính (reason), chứ không phải chỉ về sự thảo luận (discourse).

Trong những ngày cuối năm ấm áp, tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm từ Hoa Kỳ đã gửi đến cho Diễn đàn Triết học Việt Nam một bài viết mới của ông: Một lý thuyết về công lý. Diễn đàn triết học Việt Nam xin được trích đăng ra từng kỳ, đồng thời đăng tất cả dưới dạng pdf.
Mời các bạn tải về dưới dạng pdf: http://adf.ly/1iZBhl
(Chờ 5 giây, nhấn vào Skip ad ở góc trên bên phải màn hình để bỏ qua quảng cáo )

Advertisements