Trong những ngày cuối năm ấm áp, tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm từ Hoa Kỳ đã gửi đến cho Diễn đàn Triết học Việt Nam một bài viết mới của ông: Một lý thuyết về công lý. Diễn đàn triết học Việt Nam xin được trích đăng ra từng kỳ, đồng thời vừa đăng tải đầy đủ tất cả các kỳ dưới dạng pdf.
Mời các bạn tải về dưới dạng pdf: http://adf.ly/1iZBhl
(Chờ 5 giây, nhấn vào Skip ad ở góc trên bên phải màn hình để bỏ qua quảng cáo )

D. Con người Công lý

8. Hai Năng lực Đạo đức của mẫu người Công dân:

Mỗi công dân, trước hết và trên hết là một con người (person). Họ là những con người tự do và bình đẳng (free and equal). Con người này là mẫu người xã hội trên cơ bản công dân, dấn thân vào việc nước và xã hội một cách tích cực và tự nguyện và có khả năng làm chuyện đó. Con người ở đây là một khái niệm quy ước (normative) và chính trị, hơn là siêu hình hay là tâm lý. Mỗi công dân cần có hai năng lực đạo đức:

Thứ nhất: Khả năng cảm nhận được công lý (capacity for a sense of justice): Khả năng thông hiểu, ý chí áp dụng và hành động trên cơ bản nguyên tắc của công lý chính trị vốn phân định điều kiện công bằng cho sự hợp tác trong xã hội.

Thứ hai: Khả năng cho một quan niệm về điều tốt lành (capacity for a conception of the good): Khả năng để có được, cải tiến, và theo đuổi mục tiêu thiện lành một cách hợp lý. Quan niệm thiện lành là một tập hợp của những chủ đích và mục tiêu về giá trị cuộc sống, và của những gì đáng để sống cho. Đây là một hệ thống phân định giá trị hiện hữu trong mối tương quan với tha nhân và xã hội, thế giới, được đặt trên cơ sở rộng lớn hơn của triết học, tôn giáo và đạo đức.

9. Những công dân hợp lý: Người công dân là hợp lý (reasonable) khi họ, trong quan điểm tôn trọng lẫn nhau như là những cá thể tự do và bình đẳng, sẵn sàng cống hiến cho nhau những điều kiện công bằng cho sự hợp tác xã hội để rồi sẵng sành hành động từ những điều kiện đó, dù cho rằng chúng có thể đem đến bất lợi cho chính mình. Đây là “tiêu chỉ hỗ tương” (criterion of recirpocity). Một phương diện khác cho một công dân hợp lý là “sự công nhận và sẵn sàng chấp nhận hệ quả của gánh nặng bị phán xét” (The burden of judgment). Họ phải ý thức được rằng những con người vừa phải và hợp lý có thể bất đồng ý kiến nhưng không đến nỗi là kỳ thị, thiên kiến hay quá ích kỷ, vụ lợi quá mức. Đây là nguyên tắc của “đồng ý về tình trạng không đồng ý.” Gánh nặng của phán xét từ sự bất đồng giữa người và người có từ bản chất của nhân loại, tính không hoàn tất của bằng chứng, mức độ quan trọng của mỗi vấn đề theo quan điểm từng người và từng nhóm, khái niệm mơ hồ, kinh nghiệm khác nhau, tiêu chuẩn quy ước đa dạng, và bản chất của cơ chế xã hội nhấn mạnh giá trị này, hay giảm nhẹ giá trị khác theo thời gian và hoàn cảnh khác nhau.

10. Phân biệt giữa con người hợp lý (reasonable) đối với con người lý tính (rational): Con người hợp lý là con người vừa phải, biết điều, chấp nhận luật chơi, dù có bị thua. Họ là con người công lý (just) và công bằng (fair). Còn con người lý tính là con người có thể vừa hợp lý hay vô lý (unreasonable), khi họ có thể lợi dụng cơ chế chưa toàn hảo của xã hội để làm hại người khác và làm lợi tối đa cho chính mình. Một con người hay một chế độ chính trị độc tài cũng rất có thể mang bản chất lý tính, dù rằng nó là vô lý. Vô lý và hợp lý, do đó, nói về cảm nhận và khả năng đạo lý con người đối với tha nhân và xã hội, trong khi lý tính nói về khả năng hành xử trên cơ sở tri kiến.

11. Ba giai đoạn phát triển cho đạo đức chính trị của công dân:

(i) Thứ nhất là sự chấp nhận và tôn trọng tính đạo đức của thẩm quyền (morality of authority);
(ii) Thứ hai là phát huy tính đạo đức của đoàn thể (morality of association);
(iii) Thứ ba là tiếp nhận đạo đức của nguyên tắc (morality of principles);

Từ lúc còn là trẻ con trong khuôn khổ gia đình, thẩm quyền phải được học từ cha mẹ, anh chị, đến khi vào xã hội thì đạo đức đoàn thể được tiếp nhận và phát huy để đem cá nhân ra với tha nhân và tập thể. Đi đến giai đoạn chính trị quốc gia thì cá nhân nay là công dân trưởng thành với đạo đức chính trị trên hệ thống nguyên tắc của chính trị công dân và công lý. Khi trở nên một công dân trên cơ sở chính trị quốc gia, thì cá nhân đóng đúng vai trò của mình trên nền tảng công lý như là lý tưởng xã hội mà họ phải tham dự vào và chia sẻ trách nhiệm cũng như hệ quả của các nguyên tắc định chế liên hệ.

E. Một Xã hội Công lý
12. Xã hội như là một hệ thống công bằng cho sự hợp tác (a fair system of cooperation) từ thế hệ này sang thế hệ khác, chứ không phải là nhất thời hay bất thường. Hợp tác xã hội không phải là sự làm việc có điều hợp, (coordinated activities), vì cái sau có thể do bị bắt buộc từ một cơ chế tập quyền. Hợp tác xã hội phải được hướng dẫn bởi quy luật và thủ tục phổ biến (publicly recognized rules and procedures), căn cứ trên điều kiện bình đẳng hỗ tương cho mọi người tham dự trên một tiêu chuẩn hợp lý và được đồng thuận cho mục tiêu hợp lý của họ.

Vai trò của những nguyên tắc công lý là để quy định những điều lệ cho sự hợp tác hỗ tương của xã hội. Những nguyên tắc này liệt kê những quyền hạn và nghĩa vụ căn bản mà định chế cơ bản của xã hội và chính trị quy định cho công dân, cũng như cai chế sự chia sẻ quyền lợi và gánh nặng trách nhiệm nhằm duy trì cán cân công lý chung. Do đó, ý niệm công lý trên cơ bản chính trị cũng chính là công lý dân chủ.

13. Quan niệm về một xã hội trật tự tốt đẹp (a well-ordered society): Là một xã hội được cai quản một cách hiệu năng bởi một quan niệm công lý công cộng (public conception of justice) nhằm đến ba điểm: Thứ nhất, mọi người đều chấp nhận, và biết rằng người khác cũng chấp nhận, về một quan niệm công lý chung. Thứ hai, định chế chính trị và xã hội cơ bản thỏa mãn được những nguyên tắc công lý này. Và thứ ba là công dân đều có một cảm nhận công lý hiệu năng, có khả năng áp dụng sự hiểu biết và cảm nhận công lý trong tổng thể quyền hạn và trách nhiệm của mình.

14. Ý niệm về cấu trúc cơ bản (basic structure): Công bằng (fairness) trong ý niệm công lý khởi đi bằng cơ chế căn bản xã hội được cai chế bởi nguyên tắc công lý – nhưng điều này không có nghĩa là nguyên tắc công lý sẽ cai chế trực tiếp các vấn đề nội bộ của những tổ chức riêng hay là hội đoàn xã hội. Nguyên tắc công lý trên cơ sở công bằng chỉ cung cấp một bối cảnh (background) của công bằng và hợp lý để giới hạn biên độ tự chủ của các định chế riêng biệt trong xã hội dân chủ đa nguyên. Ví dụ, giáo hội Công giáo có thể rút phép thông công của tín đồ nhưng không có quyền thiêu đốt họ. Do đó, đây là một thể loại công lý chính trị, chứ không phải là công lý toàn diện, ví dụ như công lý nhân quả, siêu hình. Rawls liệt kê ba tầm mức công lý: Công lý địa phương, dành cho định chế và hội đoàn; công lý nội địa dành cho cấu trúc cơ bản của xã hội; và công lý hoàn cầu dành cho công pháp quốc tế.

15. Đây là một luận thuyết công lý mang bản sắc khế ước xã hội: Tiếp tục truyền thống của triết học khế ước mà trong đó nhấn mạnh đến ba yếu tố cơ bản: Thứ nhất là điều kiện tiền chính trị (pre-political condition).(14) Thứ hai là khi một trật tự chính trị đang được xây dựng vừa khi con người bước ra khỏi thời kỳ tiền chính trị. Thứ ba, thực tế của hệ thống trật tự chính trị và xã hội với những khuyết điểm của nó mà chúng ta đang phải sống với. Cả ba điều kiện này đan quyện lẫn nhau để cho chúng ta có thể đánh giá và biểu lộ được một trật tự như thế nào, trong bối cảnh lý tưởng khả thi, có thể chấp nhận được là công bằng và hợp lý cho mọi người. Trên cơ sở khế ước xã hội, mà các pháp nhân đều có cơ bản quyền hạn, ý muốn và kiến thức ngang nhau đều được công nhận hỗ tương, sẽ đi vào một sự dàn xếp trên cơ sở hợp đồng để chung sống trong hòa bình.

F. Ý niệm về Vị thế Nguyên thuỷ (The Original Position)
16. “Vị thế Nguyên thuỷ” là một khí cụ diễn đạt, một phương tiện cho tư tưởng, nhằm giúp chúng ta hiểu thấu ý tưởng công lý trên cơ bản chính trị. Nó cũng giống như ý niệm “tình trạng thiên nhiên” về con người của Rousseau (15), hay là tình trạng tiền chính trị của nhân loại với Hobbes và Locke. Chúng ta thử hỏi: Con người xã hội như thế nào và sống với nhau làm sao trước khi định chế xã hội và chính trị được kiến tạo? Ý niệm về vị thế nguyên thuỷ của Rawls nhằm đến một cơ sở luận thuyết đi từ vị thế nguyên thuỷ của con người như là một sự tưởng tượng nhằm quy định một trật tự xã hội trên một cấu trúc căn bản nhằm thỏa mãn hai Nguyên tắc Công lý (dưới đây) để giải quyết những vấn đề của xã hội thực sự đang là.

17. Từ vị thế nguyên thuỷ, con người đại diện (representative persons) sẽ chọn những nguyên tắc công lý để cai chế cấu trúc cơ bản cho một trật tự xã hội công bằng và công lý. Mỗi con người thực hữu trong một trật tự xã hội công lý có một đại biểu trong vị thế nguyên thuỷ. Những đại biểu này là những tín nhân (trustees) và là người bảo hộ (guardians) đại diện cho tất cả những cá nhân trong tập thế chính trị của những con người tự do và bình đẳng.

Những đại biểu này có ba yếu tố thể hiện được hai năng lực đạo đức. Họ là những con người lý tính (rational persons) trong nỗ lực thực thi nguyện vọng của những người mà họ đại diện nhằm đạt được những nhu cầu công lý. Yếu tố này công nhận rằng mỗi cá nhân mà họ đại diện có một tập hợp quyền lợi riêng mà họ muốn hiện thực hóa. Những quyền lợi này gắn liền với năng lực đạo đức cá nhân để mà theo đuổi, thực thi và điều chỉnh một ý niệm về thiện lành cho cuộc đời.

Vị thế nguyên thuỷ là thế đứng cần thiết của lý thuyết mà ở đó, sự đồng thuận về một nội dung công lý chỉ là giả thuyết và không mang sử tính (nonhistorical). Sự đồng thuận này thể hiện một quá trình phân tích lý trí và đạt được một sự quân bình từ suy tưởng (reflective equilibrium).

18. Ý niệm về “Màn Vô Minh” (The Veil of Ignorance)

Những con người đại biểu này đứng sau cái mà Rawls gọi là “Màn Vô Minh” vốn che lấp họ đối với những kiến thức về những con người mà họ đại diện như là giới tính, chủng tộc, điều kiện cơ thể, tôn giáo, giai cấp hay là về ý niệm của thiện lành của những người này. Màn vô minh này là hình ảnh giả tưởng cho sự giới hạn của kiến thức cần thiết cho một lý thuyết trung hòa vượt qua các yếu tố đặc thù của con người thực sự trong sử tính. Đây là một khí cụ phân tích, một “device of representation”, cho chủ đích lý luận trừu tượng và tự phối kiểm trong lý thuyết. Từ đằng sau cái màn vô minh này, không ai có thể lợi dụng kẻ khác vì bối cảnh và vị thế đặc quyền của mình, hay là vì sự yếu kém của kẻ khác. Mỗi đại biểu là một “con người vừa phải” (reasonable person) và hợp lý trong tư thế chí công, vô tư, không có yếu tố và điều kiện cá thể, nhằm đưa ra một công cụ lý thuyết trung hòa và hiệu năng để mọi người có thể chấp nhận được.

Nhưng điều này không có nghĩa rằng các đại biểu này hoàn toàn không biết gì cả về tình trạng tổng quát của xã hội và nhân sinh quan. Họ hiểu một cách rất tổng quát, trên cơ sở trừu tượng và phổ cập, vượt qua yếu tố đặc thù và tạm thời, về bản chất và khả năng con người – hắn muốn gì, biết lo lằng điều chi, ích kỷ làm sao, và theo đuổi cuộc sống như thế nào cho quyền lợi của hắn. Điều quan yếu nhất là các đại biểu biết rằng con người hợp lý có hai năng lực đạo đức về công lý, về thiện lành.

Nếu không có cái màn vô minh này thì các đại biểu lý thuyết sẽ chọn lựa một mô thức công lý có lợi cho mình – chưa kể đến vấn đề kỳ thị hay đối xử phân biệt cho mô thức định chế xã hội. Do đó, màn vô minh này sẽ kiến tạo một môi trường trong sáng và trung hòa cho một luận thuyết về công lý trên cơ sở quy trình (pure procedural justice) nhằm kiến tạo một thể chế cho một nền công lý nội dung (substantial political justice).

Tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm- tác giả gửi bài đến Diễn đàn triết học Việt Nam.

Advertisements