Trong những ngày cuối năm ấm áp, tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm từ Hoa Kỳ đã gửi đến cho Diễn đàn Triết học Việt Nam một bài viết mới của ông: Một lý thuyết về công lý. Diễn đàn triết học Việt Nam xin được trích đăng ra từng kỳ, đồng thời đăng tất cả dưới dạng pdf.
Mời các bạn tải về dưới dạng pdf: http://adf.ly/1iZBhl
(Chờ 5 giây, nhấn vào Skip ad ở góc trên bên phải màn hình để bỏ qua quảng cáo )
Kỳ 1: Chỉ có Công Lý khi có Tự Do

A. Dẫn nhập

John Rawls, cựu giáo sư triết học tại Harvard, được xem là triết gia tây phương về triết học chính trị hàng đầu trong thế kỷ 20. Năm 1971, Rawls cho ra đời tác phẩm lừng danh, A Theory of Justice (Một Luận thuyết về Công lý, 1971) (Luận Thuyết) (1), một tác phẩm triết học về luật pháp, chính trị và đạo đức ảnh hưởng nhất ở Âu Mỹ trong vòng một trăm năm qua. Trong bài này, chúng tôi sẽ phác họa những nét chính của luận thuyết về công lý của Rawls được trình bày trong cuốn Luận Thuyết và đã được Rawls cập nhật trong suốt ba thập kỷ. Hầu hết nội dung của bài này đến từ Luận Thuyết và Justice as Fairness: A Restatement (2001) (Công lý là Công bằng: Tái trình bày) (Restatement). (2) Ở đây, chúng tôi không phân tích Luận Thuyết, cũng như không đưa ra những phê phán về nó – mặc dù luận đề và ảnh hưởng của Luận Thuyết này đã được tranh luận và mổ xẻ ròng rã và sâu rộng bởi các triết gia hàng đầu của tây phương trên cả ba mươi năm qua. (3)

B. Một tuyên ngôn chính trị

Đây là một tuyên ngôn chính trị trên cơ bản giá trị của tự do. Rawls quan niệm rằng chỉ có công lý khi mỗi con người là một công dân tự do và được bình dẳng trên bình diện chính trị. Vì thế, công lý khởi đi bằng tự do chính trị. Nếu bước đi tiên khởi này không được giải quyết, công lý chỉ là ảo tưởng. Từ đó, Luận Thuyết là một nỗ lực xây dựng một nền tảng triết học chính trị cho ý niệm công lý. Nó bao gồm một nền tảng lý thuyết cho dự án về một nền tảng định chế cơ bản nhằm kiến tạo, bảo tồn và phát huy công lý trên bình diện xã hội và tự do trên cơ sở cá nhân.

Rawls viết,

Công lý là đức hạnh thứ nhất cho các định chế xã hội, cũng như chân lý là của các hệ thống tư tưởng. Một lý thuyết dù có lộng lẩy hay tiết độ gì đi nữa, nhưng mà nếu nó sai thì phải bị bác bỏ; cũng như thế, luật pháp và định chế dù có hiệu năng hay hoàn chỉnh đến đâu cũng cần phải được cải tổ hay dẹp bỏ nếu chúng là bất công. (1971: 3)

Tình trạng bất công, nếu có, chỉ có thể được chấp nhận đến mức cần thiết để tránh một thứ bất công khác to lớn hơn. Từ đó, chỉ tiêu của công lý là cấu trúc cơ bản của xã hội trên một hệ thức chính trị (political scheme), mà trong đó, nội dung và quy trình công lý tuỳ thuộc vào phương cách mà các quyền hạn tự do căn bản và trách nhiệm công dân được phân định song song với cơ hội tiến thân kinh tế và quyền lực được chia sẻ công bằng và hợp lý.

Công lý phải được đặt cơ sở trên quyền cơ bản của con người. Rawls viết tiếp,

Mỗi người đều có quyền bất khả xâm phạm trên nền tảng công lý cho dù quyền lợi của cả xã hội cũng không thể bị phủ quyết. Vì lý do đó, công lý từ chối sự phủ nhận tự do của một số người có thể được bù trừ bởi lợi ích của kẻ khác (…) Từ đó, trong một xã hội công bằng, quyền tự do bình đẳng của công dân là chuyện phải được chấp nhận; những quyền hạn bảo đảm được bởi công lý không thể được gia giảm vì lý do chính trị hay là về những tính toán cho lợi ích xã hội. (…) Khi là những đức hạnh hàng đầu của sinh hoạt con người, chân lý và công lý là hai điều không thể được nhân nhượng. (1971:3-4)

C. Luận thuyết về Công lý

1. Từ bối cảnh và truyền thống triết học tây phương, Rawls muốn dựng lên một triết thuyết mới. Trong Lời nói đầu cho Luận Thuyết, Rawls giải thích mục đích của tác phẩm rằng,

Trong hầu hết các triết thuyết về đạo đức cận đại thì các hệ thuyết đều có nội dung chủ nghĩa “hữu dụng” (utilitarianism) (4). Một trong những lý do là “hữu dụng luận’ đã được cổ vỏ bởi nhiều triết gia lừng danh với một dòng tư tưởng đáng nể phục trên cả tầm mức lẫn phẩm chất. Có lúc chúng ta cũng đã quên rằng những lý thuyết gia theo trường phái hữu dụng như Hume, Adam Smith, Bentham và Mill (5) đã là những nhà lý thuyết về xã hội học và kinh tế học hàng đầu; và chủ thuyết mà họ đưa ra đã dành cho nhu cầu rộng lớn hơn trong một cơ đồ lý thuyết phổ quát. Những chỉ trích về thuyết hữu dụng đều chỉ nằm ở mức độ giới hạn khi nhắm đến tính chất mơ hồ của tính hữu dụng và sự mâu thuẫn và không tương đồng giữa chủ thuyết hữu dụng với những hệ quả từ nó cũng như là cảm nhận đạo đức (tự nhiên) của chúng ta. Tôi tin rằng họ (những người chống hữu dụng luận) đã không kiến tạo được một ý niệm đạo đức khả thi mang tính hệ thống để đối đầu với hữu dụng luận. Từ đó, chúng ta thường bị bắt buộc chọn lựa giữa hai vế của hữu dụng luận và trực giác luận (intuitionism).(6) (1971: vii-viii)

Như vậy là Luận Thuyết là một con đường khác, tránh được sự kẹt lối đạo đức của hữu dụng luận và tính mơ hồ của trực giác luận. Hữu dụng luận quan niệm rằng công lý được quyết định bằng công thức, “Cái tổng kết thỏa đáng nhất cho tổng số cá nhân tham dự” (The greastest net balance of satisfaction summed over all the individuals belonging to it) (Thỏa mãn lớn nhất tăng thêm là tổng hợp thỏa mãn của các cá nhân tham dự). Điều này có nghĩa là công lý phải bảo đảm việc tạo ra lợi ích (thỏa mãn) tổng hợp lớn nhất cho cộng đồng, mà lợi ích tổng hợp lớn nhất này là lợi ích của mọi cá nhân tham dự cộng lại, dù trong đó, sự thỏa mãn cho mỗi cá nhân không đồng đều, ngay cả tăng lên hay giảm xuống. Trong khi đó trực giác luận nhấn mạnh đến khả năng cảm nhận đạo đức và gía trị trong mỗi hoàn cảnh mà lý tính không có khả năng biện minh qua sự phán đoán hay tính toán lợi hại được.

Tuy nhiên, Luận Thuyết vẫn nằm trong truyền thống khế ước xã hội vốn đã được khai phá bởi nhiều triết gia Tây phương xưa nay từ Locke, Rousseau đến Kant.(7) Trong suốt cả tập sách gần 600 trang, Rawls đến cập đến Marx rất ít, chỉ nói phớt sơ qua chỉ có một câu, và còn lại là một vài chú thích ngắn.(8) Trong cuốn Restatement thì Rawls coi Marxism là một chủ nghĩa thuần lý tưởng mà trên bình diện lý thuyết đã vượt qua biên độ của nguyên tắc công lý và quyền hạn khi những nhu cầu này đã không còn là những vấn nạn; và trong cuốn Restatement cũng có đưa ra những trả lời cho những chỉ trích từ cơ sở chủ thuyết Marxism.

2. Luận đề căn bản của Rawls là “Công lý là công bằng,” (Justice as fairness). Mục tiêu là nhằm xây dựng một cơ sở nguyên tắc công lý nhằm cai quản một trật tự xã hội ổn định và đa nguyên. Nguyên tắc công lý này được đặt trên nền tảng những cá nhân tự do và bình đẳng (free and equal persons) với quyền hạn và trách nhiệm, quyền tự do chính trị và quyền tự do cá nhân (personal and political liberties) và quyền bình đẳng cơ hội trong một cơ chế xã hội muốn xếp đặt quyền lợi và cơ hội thăng tiến cho mọi người, đặc biệt là những thành phần ít lợi thế nhất (the least advantaged).

3. Rawls bắt đầu hệ thống luận thuyết của mình từ nền tảng một cá thể thuần lý thuyết (a theoretical person) bị bao phủ bởi một “màn che vô minh”, veil of ignorance, muốn phác họa một xã hội công lý trong khi không biết thế dứng hay địa vị xã hội (social status) của mình. Từ vị thế khách quan này, cá thể xây dựng định chế công lý cho xã hội mà không bị quyền lợi và tính chủ quan đánh mất tính chất khả thi, hợp lý và công minh cho hệ thống mà mình muốn xây dựng lên cho toàn thể xã hội đa nguyên và nhiều thế hệ. Rawls gọi bước đi từ vô minh này là “vị thế nguyên khởi” (original position) để từ đó, con người lý thuyết qua tiến trình có tính thủ tục thuần tuý (pure procedural process) có thể tạo dựng một tập hợp các nguyên tắc công lý cho mọi người, nhất là giới thấp nhất và kém lợi thế nhất.

4. Luận thuyết công lý này mang bản chất khế ước xã hội mà trong đó cá thể đồng ý dựng nên định chế cho mình, cho xã hội, và đồng ý bị cai chế (regulate) bằng hệ thống định chế này – cho dù trên cơ sở đặc thù cá nhân, họ có thể sẽ không được hưởng những quyền hạn và quyền lợi tối đa nếu tuân thủ theo. Đây là một ý niệm liên đới (associational conception) trong mối tương quan giữa những hội viên của một tập hợp đa dạng và đa nguyên. Quan niệm liên đới này mang bản sắc chính trị trên cơ sở quốc thể hiện đại (modern nation-state). Quốc thể (nhà nước-quốc gia) này là một đơn vị xã hội, “một hệ thống công bằng trên sự hợp tác bình đẳng qua thời gian, từ thế hệ này sang thế hệ khác.” Tính liên đới này là của những công dân trong một định chế cấu trúc cơ bản của xã hội (basic structure of society) mà họ “bước vào bằng sinh và bước ra với tử.”

5. Bởi vì đây là một quan niệm chính trị, “công lý trên cơ sở công bằng” không phải là một hệ thống lý thuyết toàn diện (comprehensive doctrine)(9) về đạo đức, triết học hay là siêu hình. Một luận thuyết về công lý nếu mang tham vọng toàn diện, comprehensive, sẽ tự nó mang tính mâu thuẫn nội tại trên bình diện logic và nội dung. Trong điều kiện chính trị và xã hội của các định chế tự do, vấn đề đương nhiên phải chấp nhận là sự hiện diện đồng thời những hệ thống giá trị và chủ thuyết khác nhau, bất tương đồng, mà không ít chủ thuyết trong số này mang tính chất quá khích và thiếu lý tính. Ý tưởng này là cột trụ chính trong tác phẩm Political Liberalism (Chính trị cấp tiến) (1993)(10) mà trong đó, Rawls tái trình bày và sửa chữa lại những gì đã đưa ra trong Luận Thuyết. Chính trị cấp tiến công nhận và đương đầu với sự thể đa nguyên hợp lý (the fact of reasonable pluralism) bằng cách chứng tỏ rằng một tư tưởng chính trị có thể thích hợp với sự kiện đa nguyên của thực tế tư tưởng và ý thức hệ trong một xã hội . Điều này chính là sự “thỏa thuận chồng chéo” (overlapping consensus) giữa những luận thuyết công lý toàn diện. Nhưng ý niệm công lý trên cơ bản chính trị không cho phép nó nhân danh tính phổ cập và toàn cầu trên cơ sở giá trị và chân lý – vì nó không phải là một tư tưởng siêu hình hay tôn giáo. Ví dụ không thể minh định bản thể luận về con người hay là sự tốt đẹp tuyệt đối bằng một luận thuyết chính trị được.

6. Một quan niệm chính trị về công lý (a political conception of justice) có ba yếu tố: Thứ nhất, nó là một quan niệm đạo đức đặc thù cho các mục tiêu và điều hành của các định chế chính trị, xã hội và kinh tế. Rawls gọi những định chế này là cấu trúc căn bản (basic structure), mà trong đó, tất cả những cơ chế và định chế kết hợp lẫn nhau thành một hệ thống điều hợp xã hội từ thế hệ này qua thế hệ khác. Thứ hai, quan niệm này không dựa trên hay bắt nguồn từ một chủ thuyết toàn diện nào, mặc dù nó có thể mang bản sắc của một hệ thống khái niệm và lý luận và cũng có thể được biện minh từ một hệ thống tư tưởng toàn diện khác. Thứ ba, nó cũng đặt cơ sở trên một bối cảnh văn hóa chính trị công cộng (public political culture) trong một xã hội dân chủ.

7. Bốn vai trò cho triết học chính trị: Điều quan yếu nhất vẫn là nhu cầu giải quyết vấn nạn trật tự nhằm đi đến một đồng thuận chính trị – mà trong đó, thứ nhất là sự hóa giải mâu thuẫn về tư tưởng. Hãy thử nhìn những mâu thuẫn của siêu hình học trên cơ sở tôn giáo trong lịch sử Tây Âu vốn đã đặt ra những vấn nạn lớn cho triết học chính trị – và là nguồn gốc của chủ nghĩa cấp tiến (liberalism) trên nguyên tắc dung thứ (toleration) của Locke, Montesquieu, Hobbes.(11) Muốn giải quyết mâu thuẫn tư tưởng thì phải tìm ra một cơ sở rộng lớn hơn để có thể đem những phương diện nhỏ của những yếu tố mâu thuẫn về lại với nhau. Trường hợp mâu thuẫn tư tưởng giữa tự do và công bằng là một đặc trưng. Sự khác biệt căn bản về hai ý niệm chính trị này đã tạo ra những mâu thuẫn của định chế chính trị, kể cả chiến tranh. Ngay trong ý niệm quyền tự do (liberties) cũng có những mâu thuẫn về sự phân định về quyền hạn, giữa cái gọi là “tự do của người xưa” (liberties of the ancients) bao gồm sự bình đẳng về quyền tự do chính trị và giá trị của đời sống công cộng (equal political liberties and values of public life), đối với “tự do của người đời nay” (moderns) bao gồm tự do tư tưởng, niềm tin, lương tâm, tự do về tài sản và thân thể, và quy tắc pháp chế.

Vai trò thứ hai của triết học chính trị là đóng góp vào một cơ sở tư tưởng cho cá nhân trong xã hội đang suy nghĩ về vấn đế quốc gia đại sự (từ cơ bản công dân) như là một vấn đề chung, vượt qua góc độ cá nhân riêng biệt và riêng tư. Đây là vai trò “hướng đạo” (orientation) mà trong không gian khái niệm, lý tính và suy tưởng sẽ hướng dẫn con người về với những mục tiêu vừa phải, hợp lý (reasonable and rational ends) trong một khung định chế thống hợp và hòa giải được nhiều góc độ của truyền thống, lịch sử và giá trị khác nhau của công dân.

Vai trò thứ ba là sự hòa giải (reconcilliation) – một ý niệm của Hegel trong cuốn “Triết học về Pháp quyền.” Triết học chính trị “cố gắng làm dịu những bực bội và giận dữ của công dân đối với xã hội và lịch sử bằng cách chỉ ra phương cách nhận thức để thấy rằng những định chế xã hội tự chúng là hợp lý và sẽ tiến hóa theo chiều hướng của lý tính.” Đây chính là yếu tính của câu nói lừng danh của Hegel, “Khi chúng ta nhìn về thế giới một cách hợp lý thì thế giới cũng sẽ nhìn lại ta một cách hợp lý.”(12) Tức là chúng ta phải tiếp cận với định chế xã hội, dù là với nhiều khiếm khuyết, một cách tích cực và với lý tính, chứ không phải chỉ tiêu cực và thụ động chấp nhận.

Theo đó thì một xã hội dân chủ không là và không thể là một cộng đồng (community) hay là một hội đoàn (association) – nếu như cộng đồng hay hội đoàn được hiểu là một tập hợp tự nguyện của những cá nhân cùng chia sẻ những quan điểm sâu rộng về một vấn đề trên cơ sở của một chủ thuyết toàn diện. Trái lại, xã hội dân chủ phải là “đa nguyên hợp lý” (reasonable pluralism) mà trong đó, dù có những khác biệt và mâu thuẫn sâu sắc vẫn có thể chia sẻ cùng nhau về một hệ thống định chế chính trị và quy tắc. Khi mâu thuẫn tư tưởng và giá trị qúa sâu rộng và không thể hòa giải trên cơ sở ý niệm và giá trị thì định chế chính trị dân chủ và pháp chế sẽ giải quyết bằng phương cách thủ tục (pure procedural reconcilliation).(13)

Vai trò thứ tư của triết học chính trị mang bản chất lý tưởng thực tế (realistic utopian): Công việc thăm dò biên độ có thể đạt được trên thực tế của chính trị với niềm tin rằng xã hội con người, cho dù dưới hoàn cảnh nào, cũng sẽ có chổ đứng và cơ hội cho một trật tự chính trị vừa phải, công bằng và dân chủ. Chúng ta phải hỏi: Một xã hội dân chủ công lý sẽ như thế nào, dù là nó không được toàn hảo? Những lý tưởng và nguyên tắc nào mà xã hội dân chủ này có thể hiện thực được trong hoàn cảnh con người và truyền thống, lịch sử cho phép? Các khả thể chính trị và công lý luôn luôn phải đối diện và giải quyết bản chất vốn luôn là khó khăn của thực trạng xã hội.

Và cuối cùng, triết học chính trị, dù là một cơ năng tri thức cho nhu cầu hòa giải, không có nghĩa là nó phải dung túng và biện minh cho những chế độ chính trị ung thối, hay ý thức hệ giáo điều bất công, độc tài và áp bức. Cho nên, chính Rawls cũng đặt nghi vấn đến luận thuyết công lý của mình rằng nó có khả năng trở nên một loại giáo điều hay không nhằm điều chỉnh nó.

Tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm- tác giả gửi bài đến Diễn đàn triết học Việt Nam.

Advertisements