“Nếu muốn có những trả lời cho câu hỏi của ngươi về tính huyền bí và ý nghĩa cuộc đời trên bình diện lý tính, ngươi sẽ chỉ nhận được từ tri thức những giả tưởng bịa ra và những sự kiện kiến lập. Còn khi nói đến thông hiểu, thì câu hỏi đó của ngươi đã trở nên thừa thãi.” (Padmasambhava)(1)

I. Một vọng tâm lý thuyết

Khi nói về Tây tạng, tĩnh từ “huyền bí” thường được kèm theo như là một thuộc từ thiết yếu. Có nhiều điều về văn hóa và con người Tây tạng đáng để được gọi là bí mật, nhưng điều khó hiểu hiển nhiên nhất, trên phương diện vấn nạn lý thuyết, là tại sao đất nước này lại không thể trở nên một quốc gia độc lập chính thức(2), dù lịch sử văn minh độc đáo lâu dài của họ rất xứng đáng – với nhiều cơ hội lịch sử – để trở nên một đơn vị quốc thể? Nếu như rằng Tây tạng là một quốc gia độc lập, thì tất cả những gì đang ở trên trang tin tức thế giới ngày nay đều rất có thể đã không thể xẩy ra. Có phải đạo lý Phật giáo trong ý chí giải thoát đã là nguyên nhân cho sự không thành hình, hay thất bại, của ý chí lập quốc? Ngoài yếu tố Phật giáo là một nghi vấn chính, thì đã có hay không một bản sắc văn hóa bản địa và tâm chất con người đặc thù của Tây tạng đóng góp nên tình trạng vô quốc gia này?
Trên tiền đề và định danh giá trị quốc gia, vấn đề chính trị Tây tạng hiện nay, qua những vật lộn trăn trở của dân tộc này trong sự kiềm chế của Trung quốc, sẽ không thể được lý giải nếu chúng ta không dựa trên cơ sở văn hóa và con người bản địa trong bản sắc tư tưởng Phật giáo. Có phải rằng khi người Tây tạng “vùng dậy” trong ý thức dân tộc và quốc gia là đã đến lúc mà lý tưởng tôn giáo của họ đã chuyển hóa thành một năng lực trần gian? Nếu rừng rậm Amazon ở Nam Mỹ là buồng phổi cho thân thể địa cầu, thì Tây tạng là trí tuệ tâm linh của nhân loại. Ở thời điểm khi mà báo chí thế giới nói đến Tây tạng bằng ngôn ngữ biến cố thời cuộc thì chính là lúc mà vốn liếng tâm linh của nhân loại, qua con người và xã hội Tây tạng, đang bị cạn kiệt nhanh chóng – đồng lúc với những tế bào của buồng khí quản Amazon cũng đang bị phá huỷ bởi những con trùng lao công nghệ và tiêu thụ từ văn minh vật chất thời đại.
Vài câu hỏi lớn như vậy cần phải được nêu tiếp ở đây: Có phải những gì đang xẫy ra ở Tây tạng là sự biểu hiện cho một tiến trình thoái hóa từ một tính thể văn minh linh thiêng đang trên con đường trở thành ý chí thế tục? Một trường phái bí truyền (esoteric) nay đang được khai mở ra (exoteric) cho thế gian? Khi lý tưởng giải thoát không còn là raison d’être cho Tây tạng, có thể rằng dân tộc này, từ con đường phủ định tự-ngã, self-negation, như là một cứu cánh tối hậu trong thể tính tồn tại, nay đã bước sang năng ý xác định tự ngã, self-affirmation, qua hiện tượng trần gian – mà định chế quốc gia là một chiếc thuyền, dù mong manh, nhưng thiết yếu để cùng nhau, trên cơ sở tập thể, bơi qua bên kia giòng sông trần thế đầy nguy hiểm đắm chìm? Hay là dân tộc Tây tạng đã có câu trả lời, đã có một chọn lựa, trên cơ bản đạo lý siêu hình, vĩnh cửu cho chính họ? Trong vọng tâm lý thuyết về những vấn đề đương thời ở vùng đất linh thiêng đó, ở đây tôi thử đưa ra một trả lời về điều bí mật hiển nhiên này – như là một phương thức trốn thoát chính mình qua khỏi tính chất nhàm chán đầy bi đát của cơ sự trần gian.

II. Từ đối trọng đế quốc

Trước hết hãy nhìn rất bao quát về lịch sử vùng đất này. Lịch sử Tây tạng là một bản sắc chuyển động của lịch sử Phật giáo trong tình huống lưu vong từ khi nó được truyền vào lãnh thổ này từ năm 640 sau Công nguyên. Nhưng cho đến vào giữa thế kỷ 13 thì Tây tạng mới trở nên là một đất nước Phật giáo sau khi đoàn quân Mông cổ và Hồi giáo xâm lăng Ấn độ, tàn sát tăng lữ, đốt phá chùa chiền, gây ra phong trào Phật tử di cư đồng loạt vào Tây tạng. Mặc dù lúc đó, Tây tạng đã nằm dưới sự cai trị của Mông Cổ cả mấy thập niên, nhưng chế độ Mông trị ở đó không bị nhiễm độc bởi tinh thần thánh chiến của đoàn quân Mông cổ đã cải đạo theo Hồi giáo khi chúng xâm lăng miền bắc Ấn độ từ bình nguyên nam Hồi quốc (Pakistan). Chuyện kể rằng, khi quân xâm lăng Hồi giáo vào đến một tu viện Phật giáo ở bên sông Hằng, chúng đã gặp khoảng một ngàn tăng sĩ Phật giáo đang ngồi thiền. Cuộc tàn sát bắt đầu. Từng tăng sĩ bị chém chết dưới lưỡi gươm, nhưng phần còn lại vẫn ở trong trạng thái thiền định cho đến khi còn dưới hai trăm. Khi một vị tướng Mông cổ đưa lưỡi kiếm vào ngực một tăng sĩ tuyên bố, “Ngươi có biết ‘ta’ là ai không?” Vị tu sĩ mĩm cười trả lời, “‘Ta’ là kẻ mà lưỡi gươm và cái chết không làm rung động.” Câu trả lời này đã làm cho vị tướng tỉnh thức và ông đã tha chết cho số tăng sĩ còn lại. Vị tướng đó thì nghĩ đến cái “ta” của ông vốn không sợ cái chết trên chiến trường gươm giáo; vị tu sĩ nghĩ đến cái “Ta” chân nguyên vốn tồn tại vĩnh cửu không tuỳ thuộc vào biến số của thế gian và thân xác. Câu hỏi của vị tướng hiếu sát là ngọn lửa nung nấu sức mạnh đạo lý của nhà Phật qua câu trả lời và thái độ dững dưng của vị tu sĩ. Một đế quốc hung hãn và man rợ như Mông cổ cần đến một năng thức tâm linh và trí tuệ của con người Phật giáo thời ấy – cũng như thái độ ngạo mạn và nặng lý tính của đế quốc La mã phải được khai mở bằng năng lực trái tim của đạo Thiên Chúa. Nhưng Phật giáo đã không có cơ hội để chuyển hóa đế quốc Mông vì văn minh Hồi giáo, vốn gần hơn với bản chất du mục của đoàn quân và hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, đã thấm nhập khá sâu sắc vào máu huyết của các đạo quân xâm lược. Tuy nhiên, Phật giáo Tây tạng đã trở nên một năng lực tâm linh đối trọng với đế quốc Mông cổ – cũng như Thiên Chúa giáo là tác phẩm tinh thần đối trọng với đế quốc La Mã(3).
Nhưng tình hình ở Tây tạng từ thế kỷ 13 thì lại khác. Truyền thống Lạt Ma được dựng lên từ nội dung huyền bí Phật giáo, vốn là hậu thân của Ấn Giáo, song song với thể thức thế tục của đế quốc Mông cổ. Ngay cả danh hiệu “Dalai Lama” khởi đi chỉ là một chức tước quyền hạn của chế độ Mông Cổ trao tặng cho vị Lạt ma đời thứ 5. Danh vị và chức năng “Dalai Lama” là một tác phẩm trí tuệ hiếm hoi của gia sản đế quốc Thành Cát Tư Hãn. Thay vì phong vua và tạo ra chính thống tính quốc gia cho Tây tạng, nhà Mông phủ nhận quyền lực chính trị và vương quyền thế gian bằng cách phong thánh cho Lạt ma. Cái linh thiêng đã trở nên đồng nghĩa với cái bất lực. Nhưng trạng huống bất lực chỉ là một phạm trù thế gian; trong khi dân Tây tạng đã nâng chính họ lên với cái linh thiêng.
Georges Bataille, trong “The Accursed Share”, đã nói rằng dân tộc Tây tạng, trong cơ hội lập quốc dười thời Mông trị, đã “chọn tăng lữ thay vì là quan quân”(4). Chúng ta nhìn lại câu chuyện của Thiên Chúa giáo dưới thời Đế quốc La Mã. Khi tham vọng quyền lực quân sự của La Mã bị thất bại, kinh đô Rome không thể duy trì là một thủ đô thế tục, nó đã được Đế quốc này biến thành “thánh địa” của giáo hội Thiên Chúa. Sức mạnh gươm giáo nay đã trở nên linh thiêng. Truyền thống Lạt ma của Tây tạng cũng như là chức vị giáo hoàng của giáo hội La mã là hai vế của một gia sản quyền lực đế quốc khi tính huyền nhiệm và thực tế thế gian đã không thể cùng chia sẻ một mẫu số chung hiện tượng. Trong khi tòa thánh La mã được một quốc gia Ý Đại Lợi bảo vệ, thánh địa Lhasa của Tây tạng lại kiêm luôn phương diện thế quyền qua tiêu chỉ tôn giáo và truyền thống trong khi không có một cơ chế công quyền và quân đội. Thảm kịch Hán trị bắt đầu bằng khoảng trống quyền lực và định danh thế tục này. Từ đó, từ sự thể mơ hồ trên cơ sở định chế và quyền lực từ một lịch sử như vậy, sự tranh luận về Tây tạng, như là định danh quốc gia chính thống trên một thể dạng lập quốc biệt lệ, hay là một lãnh thổ của vương quốc Trung Hoa với một sắc thái dân tộc và văn hóa bản địa, đang vẫn còn tiếp tục và càng gia tăng hơn cho đến hôm nay.

III.  Đến cân bằng thế tục

 

Trên bình diện siêu hình thì có một sự tương đồng cho vai trò của Lạt ma Tậy tạng và Hoàng đế Trung quốc.  Cả hai đều được công nhận bởi dân chúng như là hiện thân từ một cơ năng siêu nghiệm, hoặc là “Thiên tử” hay là “Phật sống”, thay mặt cõi vô hình cai quản việc nước.  Cơ năng siêu nghiệm này có hiệu quả trong công việc thế tục hay không là còn tuỳ vào “ý dân”, tức là lòng tin và chấp nhận tính chính thống của vương hay giáo quyền.  Trong khi tâm thức người Hán thì nặng về thế tục, người Tây tạng thì hướng về siêu hình.  Người Hán chấp nhận phạm trù linh thiêng siêu nghiệm cho chính trị vương quyền như là một giải pháp đã rồi, một hình thái huyền bí đã được phân định.   Cái của Trời dành riêng cho Trời, còn cái của Đất thì để cho con người lo toan.  Chính trị và công quyền, do đó, là việc của Thiên tử và vị hoàng đế thay mặt Trời đảm nhiệm cho dân.  Vì vậy, trên phương diện siêu hình, người Hán không có tinh thần dân chủ vì tự bản chất họ  không thích thể chế “dân chủ” vốn đòi hỏi sự dấn thân vào việc chính trị và công quyền.  Người Hán chỉ muốn được để yên để làm ăn.  Tâm thức này là đặc thù cho người Tàu mà cho đến hôm nay vẫn chưa có gì thay đổi nhiều.

Tính lưỡng phân giữa Trời và Thế, mà hệ quả của nó là sự linh thiêng hóa chính trị, đã đưa người Tàu đến một thái độ bỏ mặc việc nước cho vua quan. Từ đó, người Hán đi vào một khoảng trống siêu hình lớn.  Khi Khổng và Lão giáo đã không chất đầy được không gian siêu hình này, năng lực tinh thần của Phật giáo đã đến với họ.  Huyền thoại Đạt ma Tổ sư (Bodhidharma), một thiền sư Phật giáo từ Ấn độ, đến Trung Hoa truyền đạo vào thế kỷ thứ Sáu, chín năm ngồi quay mặt vào tường ở núi Thiếu thất, là một biểu dụ cho một mệnh lệnh quán tưởng về tâm thức thuần thế tục (tường đá) cho người Hán.  Không những là Đạt ma đã đem thiền định đến Trung hoa, ông cũng đã đem võ thuật đến cho tu sĩ Hán tộc(5).  Đòn cân tôn giáo, giữa siêu hình, linh thiêng của thiền định đã được cân bằng với võ thuật chiến đấu.  Cõi thân xác trong thiết yếu tính của nhu cầu thế gian được nâng lên ngang mức với cứu cánh tính tôn giáo qua ý chí tu học giải thoát cho ngã thể, ít nhất về bình diện ưu tiên trên quy hệ thực tiễn.  Và đây là bí quyết cho sự thành công về một công thức truyền giáo cho người Hoa, nếu không, Phật giáo sẽ bị dân Tàu từ chối ngay từ thưở ban đầu.  Hình ảnh Đạt ma khi hoàn tất công việc truyền đạo và võ thuật cho người Hán, ông đã cầm trên vai chiếc dép (thế gian) để bay vào không gian rồi biến mất đã nói lên tính bất khả thay đổi trong tâm thức thuần siêu hình và phủ định thế gian của Phật giáo và truyền thống Ấn giáo. Văn minh Trung hoa nếu không có Phật giáo thì chỉ còn là một thảm kịch thế gian.  Trung quốc, cũng như là cả Á Đông, đã mắc nợ tâm linh đối với Phật giáo mà Ấn độ là nguồn gốc và Tây tạng là cao nguyên nuôi dưỡng đạo lý này.  Phật giáo đã cho người Hán một linh hồn – cũng như Thiên Chúa giáo đã cho đế quốc La Mã một Chúa cứu thế.  Vì vậy, nếu bỏ mất Tây tạng, vốn là thánh địa Phật giáo, trên phương diện siêu hình, người Tàu sẽ mất tất cả sự kiêu hãnh quốc gia.  Không còn Tây tạng như là một phần của tổ quốc, người Hán sẽ nhìn thấy chính mình là một dân tộc thuần thân xác và thế tục với một linh hồn ngoại thân – như cây đuốc Olympic không được đốt lửa.

 

Tác giả Nguyễn Hữu Liêm- hiện đang là giảng viên triết học tại Hoa Kỳ, gửi đến Diễn đàn Triết học Việt Nam.

Tải xuống Ebook Tuyển tập các bài báo triết học của Nguyễn Hữu Liêm : Download

Tải xuống trọn bộ Quốc gia như ảo thức đọa đày: Một lý thuyết về Tây Tạng tại: Download ( chờ 5 giây rồi bấm vào Skip add)

Advertisements