VI. Một biệt lệ và mô thức cho thế giới hiện đại: Con đường dân tộc vô quốc gia

Tuy nhiên, khi nhân loại tất cả đều đi vào con lộ lập quốc thay cho tâm thức tôn giáo và ý chí siêu hình thì Tây tạng đã không chọn pháp phương tiện bằng chiếc thuyền bát nhã quốc gia. Điều ngạc nhiên là trong suốt cuốn sách quan trọng về tôn giáo và chính trị này, Gauchet không hề đế cập đến Tây tạng, và chỉ đề cập đến Phật giáo chỉ có hai lần ngắn tắt. Nếu đã nhìn đến Tây tạng, Gauchet sẽ phải để dân tộc này vào một biệt lệ cho lý thuyết của ông. Tại sao dân tộc Tây tạng với tâm thức Phật giáo đã có thể phủ định năng ý lập quốc, bỏ qua thời quán quốc gia, để dành hết ý chí dân tộc vào con đường siêu hình?
Tôi nghĩ rằng một lý giải để trả lời câu hỏi này đòi hỏi chúng ta phải bước tới bình diện siêu hình. Từ lý thuyết lịch sử tôn giáo của Gauchet, như đã được trình bày, Tây tạng có thể là một biệt lệ lịch sử, một mô thức tôn giáo mà không cần đến sự phân cực định chế và cấu trúc đẳng cấp giữa thế tục và siêu hình. Từ hai ngàn năm trăm năm trước, khi tính chất siêu hình của tôn giáo đã trở nên hai vế, giữa Thượng đế siêu hình đối với tổ quốc thế tục, thì chiếc “thuyền bát nhã” của họ cũng đòi hỏi đến hai mái chèo. Cho tôn giáo, họ cống hiến tinh thần; cho quốc gia, họ hiến dâng thân xác. Sự bận rộn thân xác và tư duy cho chuyện thế gian và quốc sự là sự thể hiện ý chí phủ định tính liên hệ cần thiết đối với nhu cầu thân xác trên bình diện hữu hình trong võng trục của không và thời gian. Ta phải lao động cho đời sống kinh tế và vật chất để ta không còn phải lo toan về lao động. Ta phục vụ quốc gia bằng tình yêu nước để ta không còn phải cần đến quốc gia và tình cảm liên đới. Ta phải gánh món nợ trần gian cho hết đoạn đường sinh hữu để mong đến hết con đường, ta sẽ vất bỏ gánh nặng này. Tự bản chất, tính liên hệ giữa con người với quốc gia và chính hắn là thuần phủ định qua hành động thân xác và tác năng ý chí.
Trong nhận thức về bản thể tồn tại như thế, dân tộc Tây tạng, trên cơ bản trí tuệ phổ quát và siêu hình, là một tập thể quần chúng đứng trên một nấc thang đạo lý và trí huệ cao sâu hơn khối nhân loại đang là, họ đã bỏ qua pháp phương tiện quốc gia như là một giai thời tiêu cực. Quốc gia là một gánh nặng hiện hữu không cần thiết, một chặng đường tiến hóa đã bị loại trừ ra khỏi con đường giải thoát. Không phải vì dân tộc Tây tạng mang quan điểm phủ định thế gian và tự- ngã của Phật giáo để từ chối ý chí lập quốc, hay thất bại trong ý chí đó, mà vì con người ở đó đã thông ngộ ra bản chất thuần phương tiện của chủ nghĩa và định chế quốc gia để “đốt giai đoạn” vượt qua con thuyền bát nhã không cần thiết này.
Đến đây, trên bình diện địa lý chính trị, trong bối cảnh giá trị quốc gia và những hệ quả bình thường của nó, câu hỏi sẽ là, liệu người Tàu có để cho dân tộc Tây tạng một khoảng không gian văn hóa và tôn giáo đủ cho họ thực hành con đường giải thoát? Có phải khi đất nước không còn nguyên vẹn và khi văn hóa bản xứ đã không còn nguyên thuỷ thì con đường giải thoát của đạo Phật Tây tạng cũng sẽ bị huỷ diệt? Nhìn vào những tin tức từ Tây tạng hiện nay thì tình hình đang mang nhiều tính chất tiêu cực – một hệ quả không thể tránh khỏi trong một năng động đầy va chạm giữa văn hóa, chủng tộc, tôn giáo, lịch sử, giữa thực dân kinh tế Hoa kiều và người Tạng bản xứ. Thêm vào đó là bản chất cai trị độc đoán, áp bức, không tự do của một chế độ Stalinist trung ương từ Bắc kinh. Vì thế, nhìn về ngắn hạn và trên bình diện hiện tượng chính trị và con người, thì không ai, ngoại trừ người Hán, có thể chấp nhận tình trạng đang diễn ra ở đấy.
Tuy nhiên, những vấn nạn mang tính chất thuần xã hội này cần phải được cân bằng với những phân tích thuần thực nghiệm từ một góc độ khác. Rất có thể rằng văn minh thuần vật chất và kinh tế của người Hán đang tạo ra một năng động tâm thức hiện đại, mang tính quân bình của thế tục đối với trọng tâm siêu hình của dân bản xứ Tây tạng. Tính hiện đại và cám dỗ vật chất với những phần thưởng kinh tế thế tục sẽ tạo một lối đi mới cho những tu sĩ chưa đủ căn cơ tu đạo, gạn lọc bớt những thừa thãi quá mức, những lạm dụng và sai lầm, từ cơ chế đến nhân sự, trong chủ thuyết “tu viện toàn thể” của Phật giáo ở đó. Kinh tế và thương mãi là phương tiện xả hơi áp xuất cho sự “thừa thải năng lực” của giới tăng lữ. Và quan yếu hơn, cấu trúc kinh tế của Trung hoa hiện đại đã giúp cho dân tộc Tây tạng giải quyết thiết yếu tính cho nhu cầu thân xác thực nghiệm, từ thực phẩm, gia cư, y tế, đến giao thông, mà họ đã lãng quên, nếu không nói là bất lực, từ bấy lâu nay.
Trên bình diện tôn giáo thì ngay cả đạo Phật, dù là của Tây tạng siêu việt, cũng phải được đánh thức ra khỏi tính trường cữu và nhân danh vĩnh hằng phổ quát của truyền thống này để được thử thách với thời đại. Một giáo lý không được cập nhật khế cơ, không được thử thách và thịnh suy theo những hoán chuyển về giá trị và biểu tượng trong những thời quán tâm thức khác nhau, thì giáo lý đó không thể được tròn đầy, viên mãn. Người Hán, do đó, đang đỡ đòn giúp gánh nặng thế gian và nhu cầu vật chất cho Tây tạng. Dân Tàu là hiện thân của một mặt khác của con người Tây tạng vốn chưa có thành hình hay đã bị bỏ quên. Đó là mẫu người mà từ đầu đến chân, trong ra ngoài, hoàn toàn bám trụ vào thời tại và mặt đất hiện thực để chiến đấu cho sự sinh tồn duy kinh tế trong một kiếp sống này mà thôi. Có thể vì vậy, nếu biết khôn khéo dàn dựng và chuyển đổi tư duy, thì sự đô hộ của Trung quốc và sự xâm lăng văn hóa của người Hán vào Tây tạng có thể trở thành một hôn phối giữa Trời và Đất đầy khả thể tiến hóa tâm linh cho cả hai dân tộc liên hệ.
Tất cả đều sẽ tùy vào hai nhân tố dân tộc Hán, Tạng mà cơ duyên phối hợp giữa thấp và cao này có được trở nên một cơ năng viên thành cho nấc thang kế tiếp trên đường đi vạn dặm của sinh mệnh con người. Tự do ý chí của người Hán trong năng lực thuần thế tục của họ sẽ được nâng lên và thanh lọc bằng năng ý siêu hình và giải thoát của sinh thức người Tạng – nếu như người Tạng sẽ bỏ qua chủ nghĩa quốc gia như là một ảo thức đoạ đày, đồng lúc người Hán sẽ thấy được rằng sinh mệnh quốc gia của Trung hoa chỉ có thể được hoàn tất trong tâm thức Phật giáo Tây tạng. Đây là cứu cánh siêu hình cho cơ năng tiến hóa của nhân loại. Vì nếu không, hiện tượng chính trị quốc gia và những hệ luỵ đầy bi thảm có tính cách duy con người chỉ là một tuồng kịch nhân văn nông cạn, vô ích, và nhàm chán(10). Trong mâu thuẫn dân tộc và văn hóa, qua ý thức và cơ chế chính trị, con người Trung hoa, cả Hán lẫn Tạng, và nhiều sắc dân khác, khắp cả Á Châu, sẽ dần dần cùng nhau hiện thực hóa Tự do, một Tự do bản thể mà từ võng lưới siêu hình linh thiêng đến cấu trúc đẳng cấp của thế gian vẫn chỉ là những phương tiện thiện xảo, những nấc thang trong bài toán đầy “giảo hoạt của Trí năng”, như Hegel đã nói, cho con thuyền Bát nhã được đưa nhân loại cùng sang sông.
Tây tạng, bằng con đường chính thực với lý tưởng đạo lý của mình, sẽ cống hiến cho cộng đồng thế giới một bài học phá chấp trong ý chí phủ định quốc gia khi mà tham vọng chủ nghĩa định danh bản sắc giới hạn này đang hoành hành khắp nơi. Trên cơ sở bản thể luận Phật giáo, chủ nghĩa quốc gia và ý chí lập quốc, trong bối cảnh Tây tạng xưa nay, chỉ còn có thể là là một vọng tâm phí phạm và phản tiến hóa – một ảo thức đọa đày. Văn minh và văn hóa Tây tạng, do đó, sẽ là một mô hình văn hóa dân tộc bản địa không quốc gia mang cứu cánh độ thế, một lối thoát, một con đường cao đẹp, siêu việt cho sinh mệnh tối hậu của con người. Hãy nhìn vào vai trò và chức năng của đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 hiện nay trong sự gieo trồng đạo lý nhà Phật qua truyền thống Tây tạng ra khắp thế giới, nhất là ở Âu Mỹ. Khởi đi từ sự xâm lăng của Trung hoa, cho đến sự lưu vong của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, đến những biến cố gần đây, thì trên một cái nhìn toàn cuộc cho nhân loại, có thể tất cả những gì đã và đang xẫy ra cho vùng lãnh thổ và dân tộc đó, là của một năng lực tỉnh thức cho nhân loại theo một cơ trình lịch sử mang bản chất thiết yếu và huyền bí từ cơ bản(11).
_________

Tác giả Nguyễn Hữu Liêm- hiện đang là giảng viên triết học tại Hoa Kỳ, gửi đến Diễn đàn Triết học Việt Nam.

Tải xuống trọn bộ Quốc gia như ảo thức đọa đày: Một lý thuyết về Tây Tạng tại: Download ( chờ 5 giây rồi bấm vào Skip add)
Chú thích:

(1) Trích từ Herbert V. Guenther, “Wholeness Lost and Wholeness Regained: Forgotten Tales of Individuation from Ancient Tibet” (State University of New York Press, 1994).
(2) Tây tạng có phải đã là một quốc gia độc lập (independent nation-state) hay không vẫn còn là một đề án lịch sử vẫn chỉ được tranh biện trên quan điểm chính trị và dân tộc chủ nghĩa. Nhưng vấn đề rõ ràng là định chế Lạt Ma như là một đại diện thế quyền trên cơ bản quốc gia độc lập đã chưa hề được Trung hoa công nhận. Tây tạng, từ trước 1911, dù đã hành xử và được công nhận bởi nhiều quốc gia như là một quốc gia de facto, nhưng với thế giới và nhất là Trung quốc thì chưa từng là một quốc thể chính thức, a nation-state de jure.
(3) Cho bối cảnh toàn cầu ngày nay thì chúng ta cũng có thể xem văn hóa ôn hòa Phật giáo Tây tạng như là một năng lực tâm thức đối trọng với cao trào quân sự Hồi giáo (Islamic militarism).
(4) Georges Bataille, “The Accursed Share”. Vol 1. (Zone Books, New York, 1991). Những dữ kiện lịch sử về Tây tạng trong bài này được lấy từ tập sách này.
(5) Bồ đề Đạt ma là nhân vật lịch sử hay là một huyền thoại và vai trò của ông đối với nền võ thuật Trung hoa vẫn là những đề tài đang được tranh luận chưa ngả ngũ.
(6) Tôn giáo là một ý chí “hôn phối giữa Trời với Đất”. Diễn theo ý của Isha Schwaller de Lubicz trong “Journey into the Light” (1984: Inner Tradition International).
(7) Marcel Gauchet, “The Disenchantment of the World: A Political History of Religion” (Princeton University Press, 1997).
(8) “The sacred web of order now mutates into hierachy” (Gauchet: Lời mở đầu của Charles Taylor, tr. xii).
(9) “Religion substantially means the translation and embodiment of social man’s negative relation to himself into social forms” (Gauchet: tr. 21).
(10) Trường hợp Miến Điện hiện nay với một chế độ quân phiệt độc tài và khép kín trong bức tường quốc gia cô lập và bi thảm là một thí dụ điển hình. Nếu ý chí quốc gia chỉ là hậu thân của truyền thống bộ lạc, thì “câu chuyện quốc gia” ngày nay của con người cuối cùng rồi cũng sẽ phải đi qua.
(11) Khi một lý thuyết mượn đến cái siêu hình, tính bất khả tri, để giải thích chuyện lịch sử và con người, thì nó không những đã nói lên sự yếu đuối về khả năng cũng như về ý chí chính trị của kẻ lập thuyết, mà nó còn trở nên là một niềm an ủi dễ mua chuộc nhất cho tình trạng bất lực này.

Advertisements