IV. Đạo Phật phủ định ý chí lập quốc?
Trở lại với điều “huyền bí” về ý chí không lập quốc của dân tộc Tây tạng. Ở đầu thế kỷ 20, đế quốc Anh cũng đã toan tính giúp đỡ Tây tạng thành lập một quốc gia độc lập nhằm quân bình và giảm thiểu sức mạnh Trung Hoa. Khi vị Lạt ma thứ 13 chủ động một cuộc nỗi dậy địa phương để đuổi quân Tàu chiếm đóng ra khỏi Tây tạng vào khoảng Cách mạng Tân hợi (1911) ở Trung quốc, đó đã là cơ hội cuối cùng cho Tây tạng được trở nên là một quốc gia độc lập. Nhưng khi vị Lạt ma này muốn thiết lập một thể chế chính trị vương quyền và một quân đội, thì chính tầng lớp tăng sĩ và số đông quần chúng phản đối. Dân tộc Tây tạng chỉ muốn đất nước của họ là một tu viện Phật giáo. Bạo loạn chống đối chính sách lập quốc và lập quân của Lạt ma 13 cùng ảnh hưởng của đế quốc Anh nổi lên. Tây tạng muốn duy trì tinh hoa văn hóa Phật giáo qua thể thức giáo quyền; dân chúng cùng tăng lữ không muốn đất nước này trở nên một quốc gia độc lập vì phải có một quân đội như là một định chế thiết yếu. Bataille, trong tác phẩm nói trên, đã coi đây là một quyết định một phần phát xuất từ giai tầng tăng lữ nhằm bảo vệ vị thế xã hội, ngân sách, và thẩm quyền tôn giáo của họ. Tuy nhiên, đây chỉ là một quan điểm hậu hiện đại của Âu châu vốn chỉ có khả năng xét đoán sự việc trên quan điểm ý chí quyền lực trần thế mà không nhìn sâu vào chiều sâu văn minh của dân tộc Tây tạng. Bataille quan niệm rằng chủ nghĩa Lạt ma là một phương trình hóa giải năng lực thặng dư cho một dân tộc. Cũng như của khối Hồi giáo Ả rập mà năng lực tích luỹ phải để dành cho chiến tranh, của thế giới hiện đại thì cho phát triển công nghệ, đối với Tây tạng thì chủ nghĩa “tu viện toàn diện” (totalitarian monasticism) qua đời sống nhấn mạnh thiền định là một lối thoát cho năng lực nội tại bị tích luỹ mà không có lối giải quyết trong bối cảnh địa lý chính trị và kinh tế xã hội. Định chế Lạt ma đã thay thế cho quốc gia và chính quyền.
Một câu trả lời hiển nhiên khác thì cho rằng dân tộc Tây tạng đã quyết định từ bỏ cơ hội độc lập qua cơ chế quốc gia nhằm nuôi dưỡng tinh hoa đạo lý nhà Phật. Vì thế, muốn hiểu lịch sử Tây tạng, trong bản chất liên hệ đến Trung hoa, và những hệ luỵ chính trị gần đây, chúng ta phải để lịch sử này vào trong nội dung bản thể của văn hóa Phật giáo Tây tạng. Nhưng đây chỉ là một cám dỗ lý thuyết quá dễ dàng. Trong cám dỗ lý thuyết này, để hòng tìm lối ra cho câu hỏi chính trị này trên cơ bản giáo lý nhà Phật, chúng ta có thể đọc những trang kinh, chẳng hạn, “Con đường tối thượng” của Phật giáo Tây tạng, đến chương “Mười điều thực hành”, tới đoạn nói rằng, các đệ tử nhà Phật, khi bắt đầu con đường tu học, việc cần nên làm là đi ra khỏi quê nhà. Mục đích của lưu vong là nhằm phá bỏ tình cảm luyến ái và chấp nhặt vào giới hạn địa lý và tình cảm cá nhân, thân thuộc liên đới. Quốc gia là một tầng mức cấu kết của tình cảm cao nhất về chính mình, thân thuộc, quê hương. Cái vọng tưởng về tự ngã (self) và cái ta (ego) hiện thân chắc nịch nhất ở ý thức tổ quốc. Kẻ hành giả đi vào con đường giải thoát cần phải vung thanh kiếm báu lên cao để cắt lìa chình mình ra khỏi tổ quốc vốn là một biểu tượng mạnh mẽ và đầy lý tưởng thế gian này. Tình cảm cho tổ quốc mọc lên từ bản chất đầu óc vốn chỉ hướng tư duy về bản ngã, nuôi dưỡng bởi trái tim và giòng máu cơ thân. Là người lưu vong, hành giả sẽ sống trong cảm thức khách quan, cái ta này chỉ là một hiện tượng phân định trong ảo thức tự-ngã, hiện thân vào một không gian thể xác, và thả trôi vào địa lý của “đất khách quê người”. Khi sống ngoài quê cha, ta tự do trong tâm lý tự tại về một thể dạng khách quan tổng quát của tha nhân mà ta không mang một nặng nợ duyên nghiệp và luyến ái như là khi đang ở quê nhà. Cho ý chí giải nghiệp thì xuất gia không quan trọng bằng ly hương. Vòng duyên nợ trần gian – samsara – cuốn hút lấy cái ảo thức tự-ngã bằng ba con rắn cuồng vỹ: cái ta, thân xác và tổ quốc. Cái ý thức về ta này, một căn bệnh con người, nói như Dostoevski, cũng như thân xác, thì không thể tách lìa được. Nhưng quê nhà, quốc gia là một hiện tượng ngoại thân, mà dù có thật gần, thật chắc, nặng luyến ái, ta vẫn có thể cắt lìa. Hãy rời xa tổ quốc, từ thân thể, địa lý đến tâm thức luyến ái và định danh, thì bạn mới thoát ly vòng luân hồi được.
Trong bối cảnh của lý thuyết thần học này, người Tây tạng đã dứt khoát giữa chuyện Trời đối với chuyện Thế. Trên hành trình về ánh sáng của cả một dân tộc, có một đẳng cấp trí tuệ tập thể ở đó để họ không muốn mang tham vọng “kết hợp hôn phối giữa chuyện trần thế với việc cõi trời”(6). Con người không nên phí phạm nhân lực vào việc xây đắp một thể tính liên hệ, vốn không thật, giữa cứu cánh tồn tại và nội dung của chiêm bao vô nghĩa. Khi Phật tánh bị đóng khung vào cấu hình hiện tượng của tổ quốc và quê hương, cái ảo thức của ta lại càng mang thêm gánh nặng đày đọa muôn kiếp, một năng lực tự phủ định Tinh thần qua hiện tượng nhục thân. Ái dục nặng nhất và căn cơ nhất là ý chí hiện thân và tồn hữu. Và cơ năng ràng buộc chằng chịt và khắc nghiệt nhất cho ảo thức tự-ngã là tình cảm tổ quốc. Lòng yêu nước là con nợ cần phải được trả, càng sớm càng tốt, trước khi bạn được tự do. Hãy đừng tự hào với tình yêu nước. Thực chất là bạn đang chạy trốn chính mình bằng cách vay mượn món nợ ảo của thế gian cho tự-ngã. Hãy đừng từ bỏ trách nhiệm tinh thần trong ý chí giải thoát bằng cách mang trên vai gánh nặng ái quốc. Vất ngay tình yêu nước ra khỏi trái tim nhục hình để bước qua sông, qua bên kia bờ, và hãy bỏ lại quê hương và tổ quốc cho thế gian này.
Con đường cho hành giả Phật giáo là như thế – cũng như một số tôn giáo khác. Đây là một giáo lý tuyệt đối phủ định chính ta, cả về ý thức tự-ngã, về cảm giác thân xác, xã hội và quốc gia. Người Tây tạng thay vì đi vào con xuất ngoại, họ đã chọn sự phá chấp và từ bỏ luyến ái tổ quốc ngay trên quê hương mình. Nhưng khi nhìn kỹ, chúng ta không thể lấy tính chất cực đoan này của giới tu sĩ trong ý chí phủ định thế gian của nhà Phật để giải thích bản sắc ý chí phủ định quốc thể của dân tộc Tây tạng. Hãy nhìn sang Thái Lan, Miến điện và các quốc gia Đông nam Á, cũng là những quốc gia Phật giáo, nhưng họ đâu có từ chối vai trò quốc gia. Nhất là Việt Nam dưới triều đại Lý Trần, các vua quan Phật tử đã không những tham gia triều chính mà còn theo đuổi một chiến lược quân sự năng động và táo bạo để giữ vững quốc gia khỏi thảm họa đế quốc Trung hoa. Phật giáo cũng đã không làm cản trở Nhật bản đi vào con đường hiện đại hóa quốc gia, cũng như đã thất bại trong việc ngăn cản bạo động ở Sri Lanka hay thảm họa diệt chủng ở Cam bốt. Vì thế, muốn hiểu Tây tạng thì phải nhìn đến một mô thức lý thuyết mà Phật giáo là yếu tố chính nhưng không phải là tất cả. Có phải Phật giáo, vì bản chất phủ định và thụ động, đã đứng bên ngoài chính trị, và do đó, bất lực trước biến cố? Các lý thuyết về “năng lực thặng dư” của Bataille, hay “ngẫu nhiên lịch sử” hoặc là “địa lý chính trị” thì không được hoàn chỉnh. Những nỗ lực lý thuyết nhằm giải thích về ý chí không lập quốc của Tây tạng đều bị rơi vào hai thể loại lý luận nhân quả. Thứ nhất, như đã trình bày ở trên, rằng tình trạng vô quốc gia của Tây tạng là do “ý chí không lập quốc” trên nền tảng giáo lý nhà Phật. Quan điểm thứ nhì thì cho rằng sở dĩ Tây tạng không thành lập được quốc gia độc lập, không phải vì họ không muốn, mà vì họ đã thất bại. Lập luận này thực ra vẫn chỉ là một vế nhân quả tương tự như phần thứ nhất. Rằng ý chí lập quốc của dân tộc Tây tạng đã không đủ mạnh và không chuyển hóa thành sức mạnh thế gian, về ý thức, tổ chức, tranh đấu, để biến lý tưởng quốc gia thành hiện thực. Lý luận này từ cơ bản vẫn đổ lỗi nguyên nhân thất bại cho chủ nghĩa phủ định của Phật giáo. Mặc dù trường hợp Tây tạng là Phật giáo nhưng nó thì khác với các quốc gia Phật giáo khác ở Á châu, vì ở đó, đạo Phật là giòng văn hóa mạnh nhất và mang tính chủ đạo trong một lãnh thổ và tập thể cư dân rất kham khổ về tài nguyên và khí hậu. Ngoài Phật giáo ra, đã không có một năng lực văn hóa khác, mang ý chí khẳng định thế tục, đối trọng với Phật giáo, để cân bằng với ý chí thoát tục. Và Phật giáo Tây tạng cũng không phải là Phật giáo Trung hoa, Nhật bản, hay Việt Nam. Yếu tố văn hóa thuần hậu và bản chất con người hồn nhiên của dân tộc Tây tạng là cánh đồng phì nhiêu cho sự hiện thân và phát triển Phật giáo ở đó. Văn hóa bản địa là nền tảng cho sinh mệnh tôn giáo, và do đó, tập thể bản xứ. Khi một tập thể dân chúng quá hiền lành, ngây thơ, thiếu ý thức và ý chí trần thế, trong một hoàn cảnh địa dư và địa lý chính trị khắc nghiệt như Tây tạng mà mang thêm giáo lý nhà Phật, thì tổng thể tâm thức và năng động văn hóa này đã đóng góp quyết định cho sự tê liệt cho ý chí lập quốc, vốn là một dự án khó khăn và đòi hỏi bạo lực bậc nhất cho bất cứ tập thể dân tộc nào. Văn hóa bản địa Tây tạng cộng thêm với đạo Phật Ấn độ là một kết hợp tử vong cho nhu cầu lập quốc. Nhưng một lần nữa, vế lý luận thuần nhân quả này cũng chưa giải thích thỏa đáng, không những khi chúng ta so sánh với ý chí và lịch sử lập quốc của các quốc gia Phật giáo khác ở Á châu, mà ngay cả khi nghiên cứu lịch sử chính trị, dù chỉ ở tầm mức tổng quan, về xứ sở này.

Tác giả Nguyễn Hữu Liêm- hiện đang là giảng viên triết học tại Hoa Kỳ, gửi đến Diễn đàn Triết học Việt Nam.

Tải xuống file Ebook Tuyển tập các bài báo triết học của Nguyễn Hữu Liêm để đọc ngoại tuyến: Download

Tải xuống trọn bộ Quốc gia như ảo thức đọa đày: Một lý thuyết về Tây Tạng tại: Download ( chờ 5 giây rồi bấm vào Skip add)

Advertisements