spinoza

Do đâu viên gạch từ mái nhà rơi xuống ?
Thần, Chúa, khùng điên như con người
Triết lý của niềm vui + Ghi thêm về Niềm Vui trong triết học của Spinoza
Hiện hữu là kiên trì tiếp tục hiện hữu (một đọan văn nền tảng của Spinoza)
Thánh vương hiền triết ?
Thiện ác theo Spinoza
Một quốc gia càng sợ sệt, thì nó càng mất đi sự tự chủ

§§§§§§§§§§§§§

Do đâu viên gạch từ mái nhà rơi xuống ?

Nếu giả sử một viên gạch từ mái nhà rơi trúng đầu một người và giết chết ông ấy, thì người ta sẽ “chứng minh” ngay rằng viên gạch đã rơi xuống ĐỂ tước đoạt mạng sống của ông này. Thật vậy, nếu không thì làm sao cắt nghĩa được bao nhiều là trùng hợp khiến điều ấy xảy ra ?

Bạn sẽ trả lời rằng : vì có gió, nên viên gạch đã rơi, và người kia chỉ tình cờ đi qua. Nhưng người ta sẽ vặn lại : tại sao gió lại thổi vào đúng lúc đó ? Và nếu bạn lại trả lời rằng : vì ngày hôm qua, có một con bão đến từ biển khơi, và ông kia đi qua chỗ ấy vì được một người bạn mời ăn, thì người ta vẫn sẽ không ngừng đặt câu hỏi : thế tại sao lại có cơn bão, tại sao người kia lại được mời vào đúng lúc ấy ? Rồi cứ như thế những câu hỏi sẽ không ngừng nối tiếp nhau, nguyên nhân này sẽ lại đẻ ra thắc mắc khác, cho đến khi bạn bị bắt buộc phải chui vào trú ẩn trong Ý Chúa, hay một sự an bài nào đó của Trời Đất. Tức là trong hang hố của ngu tối, vô minh.

Cũng như thế, khi họ quan sát cấu tạo của cơ thể con người, thì họ liền kinh ngạc, và, vì không biết những nguyên nhân đã đưa đến nó, họ liền reo hò là điều ấy bắt buộc phải được sáng tạo ra bởi một thế lực siêu nhiên, thần thánh. Vì vậy, những người truy tìm các nguyên do tự nhiên, tức những nguyên do thực sự, của các “phép lạ”, những người cố công vận dụng trí tuệ thay vì sự ngu tối, thì thường bị lên án là lạc giáo, vô thần, bởi đám thày cúng và “đạo sư”, vốn được người đời tôn sùng như những kẻ am hiểu mọi bí ẩn của thiên nhiên và thần thánh.

Bọn ấy biết rằng một khi sự ngu tối và nỗi lo sợ nơi tâm trí của người đời biến mất, thì quyền năng của chúng cũng tiêu tan …

Nguyễn Hoài Vân

Phỏng dịch Spinoza : Ethique I – phụ lục

§§§§§§§§§§§

Thần, Chúa (*), khùng điên như con người :

Con người lầm tưởng mình tự do. Họ ý thức dục vọng và nhu cầu của họ, nhưng không biết vì sao họ họ có những dục vọng ấy. Mặt khác, con người luôn hành động theo một mục đích, mà họ cho là ích lợi, thuận theo những ham muốn của họ. Vì thế con người luôn gán cho sự vật một mục đích, và, khi có được kẻ nào giảng giải cho họ biết mục đích ấy, thì họ rất hài lòng, và… không còn nghi ngờ gì nữa. Còn nếu không có ai nói cho họ biết điều này, thì họ quay vào trong tâm hồn họ, và tưởng tượng ra những mục đích của sự vật, rập khuôn theo các dục vọng của mình. Họ nghĩ Thiên Nhiên đã làm ra những gì cần thiết cho mình : cặp mắt để nhìn, hàm răng để nhai, cỏ để nuôi bò, bò để ăn thịt, cho sữa uống, mặt trời để chiếu sáng, đại dương để chứa cá, .v.v… tất cả đều phục vụ cho các nhu cầu và dục vọng của con người.

Vì con người biết rằng những điều phục vụ cho nhu cầu và dục vọng của họ đã hiện hữu sẵn trong thiên nhiên, nên họ nghĩ rằng có một ai đó đã tạo chúng ra cho họ. Và vì luôn nghĩ đến sự vật như một phương tiện, nên họ không quan niệm được một nguyên do tự nhiên cho sự hiện hữu của chúng. Vị Thần, Chúa, đã tạo nên các sự vật cho họ, cũng được gán cho một tâm lý rập khuôn với tâm lý của chính họ. Họ cố công ca tụng, cầu xin, cúng tế … các vị Thần, vị Chúa ấy để được ban cho thêm nhiều lợi ích, để được yêu thương hơn những người khác, để tất cả những gì hiện hữu trong thiên nhiên trở thành phương tiện phục vụ cho sự tham lam mù quáng của họ. Những niềm tin vô nghĩa, những tập tục dị đoan phát sinh, biến thiên nhiên thành sở hữu của dục vọng của con người, và Thần, Chúa, thành những kẻ khùng điên như con người.

Nguyễn Hoài Vân – phỏng dịch Spinoza – Ethique I – Appendice.

(*) Đối với Spinoza “Thần Chúa” ở đây chỉ là ảo tưởng, phản ảnh tâm lý đầy lo sợ và dục vọng của con người. Thiên Chúa (“thực sự”) mà Spinoza quan niệm là toàn bộ hiện hữu.

§§§§§§§§§§

Triết lý của niềm vui :

Không một vị Chúa nào, hay bất cứ ai, ngoại trừ bọn ganh tị, có thể vui mừng khi thấy những khó khăn và đau khổ của tôi, đồng thời kết án tôi là yếu kém, trước những dòng lệ, những thổn thức, lo âu. Ngược lại, càng vui tươi, chúng ta càng gần với sự hoàn hảo, tức là càng tham gia một cách chắc chắn vào bản tính của Thiên Chúa (*).

Vì thế, người hiền rút tỉa tối đa lạc thú từ mọi sự trong cuộc sống (với điều kiện không đi đến nhàm chán, vì như thế không còn là lạc thú). Vâng, người hiền bổ dưỡng thân mình với những thức ăn ngon miệng, một cách chừng mực, nuông chiều các giác quan với hương thơm và sự xanh tươi rực rỡ của hoa thảo. Họ biết mặc đẹp, thưởng thức âm nhạc, các trò chơi, kịch nghệ, và mọi phương tiện giải trì mà mỗi người đều có thể tự thưởng cho mình mà không gây tai hại cho bất cứ ai.

Thật vậy, thân thể con người bao gồm nhiều phần với tính chất khác nhau, mỗi thành phần luôn đòi hỏi được nuôi dưỡng bởi những thức ăn mới mẻ và đa dạng, để toàn thân có thể ứng hợp với các chức năng được quy định bởi bản chất của nó, và đồng thời khiến cho tâm hồn ứng hợp được với các chức năng của trí tuệ.

(*) Thiên Chúa hiểu như “toàn bộ hiện hữu”

Spinoza – Ethique 4 – proposition 45 – Scolie du corollaire 2

§§§§§§§§§§§

Ghi thêm về Niềm Vui trong triết học của Spinoza :

Niềm vui trong triết học của Spinoza cũng là tăng cường sự hiện hữu của mình (thuật ngữ « conatus »).
Bằng cách nào ?
Bằng cách tăng cường sự hiểu biết những yếu tố nhân quả của các hiện hữu liên quan đến mình. Điều này không những tự nó là một niềm vui (niềm vui của hiểu biết), mà còn cho phép chúng ta tổ chức đời sống của mình một cách tốt đẹp nhất. Đối với Spinoza, tốt xấu đến từ sự gặp gỡ thuận lợi hay không, giữa những hiện hữu, những sự kiện trong cuộc sống (xem « Thiện ác theo Spinoza » ở sau). Trí tuệ, trong điều kiện ấy, là tổ chức những sự gặp gỡ thuận lợi, giữa chúng ta, với một hoàn cảnh, một người, một cộng đồng, một tổ chức, một hệ thống v.v…
Những đoạn trích ở trên cho thấy Spinoza từ chối biến những ước vọng của mình thành thực tế, như phóng những tham dục và lo sợ trong tâm mình vào các vị Thần, vị Chúa, các kỹ thuật tâm linh « huyền bí », ban truyền bởi các đấng « tôn sư », rồi thờ phượng những thứ ấy, như những sự thật. Ngược lại, Spinoza đề nghị lấy thực tế làm ước vọng, tức tìm trong thực tế, những gì làm cho sự hiện hữu của mình được tăng trưởng.

Nguyễn Hoài Vân

§§§§§§§§§§§§§

Hiện hữu là kiên trì tiếp tục hiện hữu (một đọan văn nền tảng của Spinoza) :

(…) Thật vậy, sự vật trong tính cá thể của nó, thể hiện những thuộc tính của Thiên Chúa (*) một cách quyết liệt. Nói cách khác, những cá thể ấy diễn bày tiềm năng qua đó Thiên Chúa hiện hữu và hành động. Thêm vào đó, không có sự vật nào mang nơi mình bất cứ gì có thể hủy diệt sự hiện hữu của nó, mà ngược lại, luôn chống cự lại tất cả những yếu tố làm tổn hại đến sự hiện hữu ấy. Như thế, mỗi sự vật, với tính hiện hữu tối đa có được trong nó, đều phấn đấu để duy trì sự hiện hữu của nó.

Spinoza – Ethique – Livre III – proposition 6

(*) Xin nhắc lại : Thiên Chúa ở đây được hiểu như toàn bộ hiện hữu, tức toàn thể vũ trụ sự vật, chứ không phải một hình ảnh méo mó của con người.

§§§§§§§§§§

Thiện ác theo Spinoza

Spinoza quan niệm Thiên Chúa LÀ hiện hữu, nên mọi hiện hữu đều tốt, vì đều là những biểu hiện của Thiên Chúa (*). Trong triết lý của ông, không có sự xấu, hay sự ác, tự thân.

Thế thì sự xấu từ đâu ra ?

Sự xấu chỉ là một gặp gỡ không thuận lợi giữa những hiện hữu, những yếu tố mà, trong bản chất, đều không tốt cũng không xấu (*). Không thuận lợi cho ai ? Không phải cho toàn thể hiện hữu, mà chỉ không thuận lợi cho một hay một số hiện hữu nhất định.

Thí dụ, ông diễn giải “tội nguyên thủy” trong Sáng Thế Ký như sau :

Quả táo không thể xấu, vì chính Thiên Chúa làm ra cây táo và đặt nó giữa vườn Địa Đàng.

Adam không xấu, vì khi dựng nên con người, Thiên Chúa đã tự khen “điều ấy RẤT tốt” (sau khi dựng nên các tạo vật khác, Ngài chỉ nói “điều ấy tốt”).

Sự xấu đến từ sự gặp gỡ giửa Adam và quả táo (tưởng tượng cơ thể Adam không chịu được thức ăn này …). Thiên Chúa không hề “cấm” Adam ăn táo, nhưng chỉ cho ông ta biết là ăn quả ấy sẽ không tốt.

Tuy nhiên, trước những cuộc thảm sát, diệt chủng, triết lý này đưa đến những suy nghĩ nào ?

Như triết gia của “nhân quả”, Spinoza có thể coi đó là hậu quả của một tập hợp nguyên nhân, trong đó không nguyên nhân nào tự nó xấu xa.
Thật ra, tuy không nói “thiện ác” hay “tốt xấu”, nhưng Spinoza vẫn phân biệt những tình cảm đưa đến tăng cường hiện hữu, và ngược lại. Những tình cảm tăng cường hiện hữu được gọi là “vui”, còn ngược lại là “buồn”.

Người ta gọi Spinoza là “triết gia của niềm vui”, vì ông đề cao các tình cảm tăng cường hiện hữu.

Bằng cách nào ?

Bằng sự hiểu biết các quy luật của sự vật, tức của Thiên Chúa, và chiều theo nó. Thật vậy, vì Thiên Chúa LÀ hiện hữu, nên chiều theo các quy luật ấy thì bắt buộc phải tăng cường hiện hữu, đem lại niềm vui vô bờ bến.

(nếu cần, xin xem lại phần “Ghi thêm về Niềm Vui trong triết học của Spinoza” ở trên)

Nguyễn Hoài Vân

(*) Spinoza quan niệm trí tuệ là « nghệ thuật tổ chức những gặp gỡ thuận lợi ».

§§§§§§§§§§§

Spinoza và sự Vĩnh Hằng – (không cần tưởng tượng một đời sống sau khi chết …)

Vĩnh Hằng là chính sự hiện hữu, như được quy định bởi định nghĩa duy nhất của hiện hữu là vĩnh viễn hiện hữu.

Giải thích : Hiện hữu, như một thực tế vĩnh hằng, được coi như bản chất của mọi sự, và, như thế, không thể lệ thuộc vào thời gian và mức độ lâu dài, kể cả khi sự dài lâu ấy được quan niệm như không có khởi đầu và kết thúc.

Ethique I – Définition 8

Ghi thêm : Không cần phải tưởng tượng ra một đời sống sau khi chết để có thể quan niệm sự vĩnh hằng của tinh thần. Chỉ cần ý thức sự hiện hữu là đủ (*). Vì điều gì hiện hữu, buộc phải tiếp tục hiện hữu (hằng hữu), như một sự cần yếu.

Nhiều người cần phải tưởng tượng ra một hay nhiều đời sống nối tiếp nhau, vì họ lẫn lôn giữa sự dài lâu với Vĩnh Hằng. Vĩnh hằng không liên hệ gì đến thời gian, nên cũng không liên hệ gì đến sự dài lâu, dù cho nó có lâu dài đến mấy đi chăng nữa.

(*) Spinoza gọi đó là ý thức bản chất của mọi sự dưới góc độ vĩnh hằng (sub specie aeternitatis) Ethique 5:23

§§§§§§§§§§§§§

Spinoza : Tinh thần bất diệt

Tinh thần không thể bị tiêu diệt hoàn toàn cùng với thân xác. Có một cái gì tồn tại từ nó, một cái gì vĩnh hằng.

Bình luận :
Như đã nói, quan niệm bản chất của thân thể như một sự vĩnh hằng chính là một quy định của tư tưởng. Quy dịnh ấy đến từ bản chất của tinh thần, cho nên chính tinh thần cũng bắt buộc phải vĩnh hằng. Tuy nhiên, chúng ta không thể nhớ được rằng mình đã hiện hữu trước thân thể, vì không một dấu vết nào của sự hiện hữu ấy có thể tìm thấy được trong thân thể. Đồng thời, vĩnh hằng không thể được đo lường bằng thời gian, cũng như không thể có một liên hệ nào với thời gian. Mặc dầu thế, chúng ta vẫn cảm nghiệm được là mình vĩnh hằng. Thật vậy, tinh thần không chỉ biết cảm nhận qua ký ức mà còn do hiểu biết. Đôi mắt của tâm hồn, qua đó nó quan sát và nhận thấy được sự vật, chính là khả năng suy luận, chứng minh. Vì thế dù cho chúng ta không nhớ được là mình đã hiện hữu trước thân thể, chúng ta vẫn ý thức được rằng tinh thần của mình, vì chứa đựng bản chất của thân thể dưới đặc tính vĩnh hằng, cũng vĩnh hằng, và sự hiện hữu vĩnh hằng ấy không thể đo lường được bằng thời gian hay sự dài lâu. Như thế, một khi đã biết tinh thần gói ghém sự hiện hữu của thân thể, thì không còn gán được cho tinh thần một sự dài lâu, và đóng khung hiện hữu của nó trong giới hạn của thời gian. Đó chẳng qua cũng là điều kiện để tinh thần có được khả năng quy định trong thời gian sự hiện hữu của sự vật và hình dung được chúng dưới khía cạnh dài lâu.

Ethique 5 – Proposition 23

§§§§§§§§§§§

Spinoza : Tinh thần, Thể xác, Dục vọng

Tinh thần chỉ lệ thuộc xúc động và dục vọng trong thời gian tồn tại của thân xác.
Chứng minh : Một sự tưởng tượng là một ý tưởng qua đó tinh thần cảm nhận một sự vật như đang hiện hữu (Eth 2 – scolie prop 17), dù trong thực tế, nó chỉ làm nổi bật sự hiện diện vào lúc này của thân xác hơn là của một sự vật bên ngoài (Eth 2 – prop 16 – coroll 2). Vì thế, một cảm xúc (…) là một sự tưởng tượng theo nghĩa nó diễn bày hiện trạng của thân xác. Từ đó, suy ra rằng (Eth 5, Propo 21) tinh thần chỉ lệ thuộc cảm xúc, tức dục vọng, trong thời gian tồn tại của thân xác.
Hệ luận : Chỉ có tình yêu trí tuệ là vĩnh cửu
Bình giải : Khi khảo sát quan điểm thông thường của con người, chúng ta thấy họ ý thức sự vĩnh cửu của tinh thần, nhưng lẫn lộn sự vĩnh cửu ấy với sự lâu dài, và hình dung nó qua tưởng tượng hay ký ức, với niềm tin rằng những thứ ấy vẫn tồn tại sau khi chết
Ethique 5 – Proposition 34

§§§§§§§§§§§

Phúc lạc (1)

Phúc lạc không phải là một phần thưởng của đức độ (2) mà chính là đức độ. Không phải vì chúng ta kiểm soát được dục vọng mà chúng ta có được phúc lạc, mà chính vì chúng ta đạt đến phúc lạc mà chúng ta làm chủ được dục vọng.

Bình giải :

Những nguyên tắc mà tôi đã đưa ra cho thấy một cách rõ ràng sự cách biệt giữa người hiền đức và kẻ vô minh, tức những người hoàn toàn lệ thuộc vào dục vọng. Kẻ vô minh vì bị dao động, lôi kéo, bởi hàng ngàn ngoại cảnh, khiến tâm của họ không bao giờ thực sự an bình. Họ luôn lãng quên sự hiện hữu của chính mình, của Thiên Chúa (3), cũng như của mọi sự vật (3). Giả sử các ngoại cảnh vốn dao động họ mà biến đi, thì kẻ vô minh liền như không còn hiện hữu nữa (4). Ngược lại, tâm của người hiền đức gần như không dao động, nên một cách tất yếu, người ấy có được một ý thức vĩnh hằng về sự hiện hữu của chính mình, của Thiên Chúa, của mọi sự vật (3), và tâm họ luôn an định.

Con đường mà tôi vạch ra có vẻ khó khăn, nhưng chỉ cần nghĩ là không gì cấm bạn bước lên nó. Một mục tiêu ít người đạt được, đương nhiên là khó tìm, nếu không thì không thể cắt nghĩa nổi vì sao sự cứu độ (3) ở gần chúng ta như thế mà con người tựa hồ như không hề biết ? Sự tuyệt hảo luôn hiếm hoi và khó với đến.

Ethique 5 – Proposition 42 – Chấm dứt sách Ehtique (Đạo Đức) (2)

(1) Spinoza định nghĩa phúc lạc là ý thức Hiện Hữu của mình, của sự vật, tức ý thức Thiên Chúa (như toàn bộ hiện hữu). Có khi ông gọi đó là “tình yêu Thiên Chúa”.

(2) Đạo Đức theo Spinoza là làm cho sự hiện hữu của mình thích nghi với một hoàn cảnh, tức với những hiện hữu khác. Xem : Thiện ác theo Spinoza ở trên.

(3) Theo Spinoza, Thiên Chúa là toàn bộ hiện hữu, tức là “thiên nhiên”, nên ý thức hiện hữu, của mình và của sự vật, cũng chính là hòa hợp với Thiên Chúa, với bản chất vĩnh hằng của hiện hữu, và là tăng cường hiện hữu của chính mình. “Phúc lạc” hay “cứu độ” là thế.

(4) Kẻ vô minh thiếu ý thức về sự hiện hữu của chính mình, chỉ ý thức những dao động của dục vọng bên ngoài lôi kéo họ, nên làm giảm bớt đi sự hiện hữu của chính mình. Để người đọc hiểu rõ điều này, Spinoza giả sử những sự vật bên ngoài, mà kẻ vô minh không ngừng bám víu đeo đuổi, biến đi, thì họ liền cảm thấy hụt hẫng, trống vắng, buồn bã, thất vọng. Sự hiện hữu của họ như không còn ý nghĩa gì nũa … Đó chính là giảm thiểu sự hiện hữu của mình.

§§§§§§§§§§§§§

Thánh vương hiền triết ?

Một quan điểm thông thường của các Đạo Sư là gán cho các dục vọng ám ảnh đời sống con người mọi xấu xa tệ hại. Họ cho rằng việc rơi vào dục vọng là tội lỗi của chúng ta, để rồi mặc tình diễu cợt, than trách, cấm đoán. Nhiều kẻ trong số họ hết lòng căm thù dục vọng, như để biểu hiện sự thánh thiện hơn người khác.
Khi hành xử như thế, họ vững tin mình chiều theo ý Chúa, và đạt đến tột đỉnh của Minh Triết. Thật ra, họ chỉ tập tành tôn vinh bằng muôn ngàn phương cách một bản tính giả định của con người, mà, trong thực tế, không hề hiện hữu, đồng thời miệt thị Nhân Tính thực thụ. Họ quan niệm con người, không phải như nó là, mà như một hình ảnh mà họ tưởng tượng ra.

Vì thế, thay vì xây dựng một luân lý, họ chỉ bài bác, và không bao giờ đạt đến bất cứ gì có thể áp dụng được trong thực tế. Ảo ảnh mà họ đề ra chỉ hiện hữu trong hoang tưởng, hay ở một thời vàng son trong đó nghệ thuật chính trị không có chỗ đứng.
Vì vậy, người ta có thể nghĩ được rằng trong mọi ngành khoa học, thì chính trị học là lĩnh vực trong đó lý thuyết và thực hành khác nhau nhiều nhất, khiến những người kém khả năng nhất để quản lý một quốc gia, chính là các luận sư và Đạo Sư.

Spinoza, Traité politique, chap 1, parag 1

§§§§§§§§§§§§§§§§

Một quốc gia càng sợ sệt, thì nó càng mất đi sự tự chủ

(…) Ban hành những điều luật đem lại sự phẫn nộ trong lòng đa số người dân, không thể được coi như quyền của quốc gia.

Con người có khuynh hướng tự nhiên là tập hợp lại, mỗi khi có một sự đe dọa chung, hay để chống lại một sự thiệt hại chung, Vì thế, nếu quyền của một quốc gia được định nghĩa và đo lường bởi sức mạnh chung của số đông dân chúng, thì có thể suy ra rằng sức mạnh và quyền hành của quốc gia càng giảm thiểu khi càng có đông dân chúng tụ tập nhau lại trong những cuộc đấu tranh.

Tựu trung, một quốc gia cũng không khác gì một cá nhân : nó cũng có những lo sợ, và, càng lo sợ, thì nó càng mất đi sự tự chủ.

Spinoza – Traité Politique III-9

Nguyễn Hoài Vân- tác giả gửi bài đến Diễn đàn Triết học.

Tải xuống Ebook Tuyển tập các bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Hoài Vân tại: Download

Các tác giả muốn đóng góp bài viết, xin gửi về địa chỉ Diendantriethoc2016@gmail.com
Diễn đàn Triết học Việt Nam- Vì một nền học thuật tự do và nhân bản.
Theo dõi chúng tôi trên Facebook tại Facebook.com/Diendantriethoc.org

Advertisements